Hồi Ký “VỀ MỘT CUỘC RA ĐI" - Giáo sư Trịnh xuân Đính: Con đường lên Biên Giới

Posted: Saturday, November 10, 2018 by ttnbg in
0


Chương Năm
Con đường lên Biên Giới



Chúng tôi đến nhà Sô Phi khoảng mười lăm phút sau, chiếc xe lôi ngừng ở một con đường đất đỏ, nơi con đường chính chẻ ba, con đường đưa đến chiếc cầu mới của thành phố Bát Tam Băng, Con đường này, tôi đã in sâu hình ảnh nó vào tâm trí vì nó sẽ làm tiêu mốc sau này để tôi tìm ra được căn nhà của Sô Phi. Tôi nhớ mồn một con đường đất đỏ trải đá xanh này, con đường dài khoảng năm sáu trăm thước băng qua một cây cầu nhỏ bằng xi măng, bên trái có những căn nhà bằng gổ và nhiều cây xoài, bên phải có căn nhà một tầng dùng làm trụ sở ủy ban nhân dân xã. Tiếng phóng thanh ồn ào lúc thì cho hát những bản nhạc Việt thời “ngụy”, lời bằng tiếng Miên mà tôi không nhớ tên, lúc thì phóng thanh kêu gọi tham gia bầu cử ủy ban nhân dân xã. Chúng tôi đi qua căn nhà này thì quẹo trái, đi độ trăm thước nữa thì đến một căn nhà giống như một kho chứa lúa. Căn nhà này chia ra làm hai, bên phải là nhà của Lon, người sẽ dẫn tôi đi đến biên giới, bên trái là nhà của Sô Phi. Khi chúng tôi đến nơi thì bác Lũy, Hinh, Huân, và cháu bé đã ở đó với hai người đàn bà dẫn đường.


Chúng tôi thay phiên nhau tắm rửa rồi vào nhà chuẫn bị ăn cơm chiều. Hai Học và các bộ hạ đang ngồi ngoài sân bàn về chuyến đi sáng hôm sau đến Xi xô phôn. Đây là chặng chót đưa chúng tôi đến ao ước, đến ngưỡng cửa tự do, chặng đường từ Bát Tam Băng đến biên giới, qua “Soay” tức Xi xô phôn dài khoảng một trăm hai mươi cây số, chặng đường khó khăn nhất vì dễ bị bắt nhất, nguy hiểm nhất vì dễ bị chết nhất, ác độc nhất vì đã làm tan nát đời bao nhiêu trinh nữ, làm chia ly bao nhiêu gia đình đã cả gan đi qua đấy để đi tìm tự do. Con đường đó làm những kẻ như chúng tôi phải cay đắng chua sót hy sinh và chịu đựng, trả cái giá phải trả để đổi lấy niềm hy vọng được tự do. Hôm chúng tôi rời Nam Vang tôi đã nghe nhiều chuyện kinh hãi về lộ trình này. Bao nhiêu trở ngại khó khăn, bao nhiêu hiểm nguy đã buộc nhiều người đã đến Bát Tam Băng, và có khi cả Soay Xi xô phôn nữa, phải trở về. Lúc đó tôi vẫn chưa hình dung được con đường đó ra thế nào.


Ngày mai đây, tôi sẽ dấn thân vào con đường kinh hoàng của định mệnh đó, tôi sẽ biết sự thể nó ra sao! Tôi biết kinh nghiệm đó sẽ hãi hùng chua cay, nhưng tôi đã chuẩn bị tư tưởng để đối phó với mọi tình huống và bây giờ tôi không còn thấy sợ hãi nữa. Tôi đã chấp nhận ra đi, chấp nhận tất cả những gì có thể xẩy đến, dù đó là cái chết, để thực hiện cho bằng được điều mà tôi hằng mong ước.


Tôi tự hỏi những kẻ ra đi trước tôi, những ai đó đã đến được vùng tự do hay đã chết tức tưởi trên con đường kinh hoàng này, những ai đó đã bị bắt lại và đang ngồi trong nhà tù cộng sản, có như tôi bình thản trong lúc sắp sửa dấn thân vào lộ trình này hay không? Tôi đã không cảm thấy sợ hãi hay lo lắng, tôi đã không buồn không vui, tôi vẫn ngồi hút thuốc và có cảm giác như một tội nhân đang chờ đợi bản án mà mình sẻ lãnh, có thể là tử hình mà cũng có thể là trắng án. Chỉ có điều khác là chính tôi đã tự gây ra tội, hay nói đúng hơn bọn cộng sản đã đưa tôi đến con đường gây ra tội để rồi lát nữa đây tôi sẽ phải lãnh bản án.






Thật là khó hiểu cái tâm trạng của tôi vào những giờ phút đó. Tôi chẳng còn là tôi nữa hay vẫn là tôi? Bình thường tôi dễ bị giao động, dễ buồn dễ vui, dễ nổi nóng, dễ khóc, tôi dễ để hoàn cảnh chi phối cơ mà? Thế mà lúc sắp sửa bước chân vào con đường của định mệnh, tôi lại không có cảm xúc gì. Tôi chẳng muốn quay lui, chẳng muốn chờ, chỉ muốn ra đi, ra đi càng sớm cang hay, đi cho rồi. Tôi muốn kết thúc cuộc ra đi này cho nhanh như thể muốn đọc cho xong một cuốn truyện bi ai để biết nó kết thúc ra sao. Tôi không ao ước, nguyện cầu như những kẻ đang ở trong một hoàn cảnh không lối thoát.






Khoảng năm giờ chiều chúng tôi quây quần ăn cơm tối. Đó là lần chót chúng tôi còn nhìn thấy nhau, ăn cơm với nhau trong không khí thân mật, trong sự cảm thông, trong mối liên hệ do hoàn cảnh, do sự gắn bó tạm thời để cùng chịu một số phận chung, và có thể là do định mệnh. Gặp nhau đấy để rồi lại xa nhau. Sau này sẽ có kẻ đi thoát, người chết tức tưởi, và người ở lại


trong nhà tù. Đã nhiều lần trong hành trình đưa chúng tôi từ Nam Vang đến Bát Tam Băng chúng tôi đã ngồi bên nhau, ăn chung bữa cơm, nhưng lần này khác, khác là vì nó là bữa cơm ly biệt. Chúng tôi ăn vẫn thấy ngon, vẫn vui vẻ nói chuyện như thể chẳng ai để ý đến ngày mai, chẳng ai ý thức được rằng sẽ có những biến chuyển dồn dập, không như những ngày trước đó. Chúng tôi dường như đều đã chấp nhận mọi hậu quả với tâm hồn bình thản của những kẻ sắp sửa lên đọan đầu đài. Vẫn cơm trắng với thịt gà kho, dưa leo, vẫn rượu thốt nốt mà Hai Học đã gọi là la de địa phương.






Ăn cơm xong, khoảng sáu giờ ba mươi, Hai Học bảo chúng tôi sang nhà Lon, phía bên kia để nghe y dặn dò. Trong căn nhà của Lon bóng tối đã phủ hẳn khoảng không gian nhỏ hẹp. Những cây đèn dầu đã đuợc thắp sáng.


Y gọi năm người dẫn đường ra giới thiệu với chúng tôi, và tôi nhận ra ngay tên Miên mà tôi đã gặp trên mui toa xe lửa khi đi từ Puốc Sát đến Bát Tam Băng. Hai Học cho biết là ngày hôm sau chúng tôi sẽ đi với năm tên dẫn đường và họ sẽ đưa chúng tôi đến tận bên kia đất Miên. Chúng tôi sẽ đi bằng xe đạp đến Xi xô phôn, rồi sẽ đi đến biên giới bằng đường rừng. Tôi và Hinh sẽ phãi tự đạp xe, còn bác Lũy, cháu bé, và Huân sẽ có người dẫn đường chở.


Tôi vẫn đinh ninh rằng chúng tôi sẽ được chở bằng Honda như Hai Học đã nói khi còn ở Saigon, đâu dè bây giờ phải đạp hơn một trăm năm mươi cây số. Tôi cũng chẳng biết liệu rồi tôi còn đủ sức hay không, nhưng đến lúc này rồi, nói gì cũng vô ích, đành tùy cơ ứng biến vậy. Hai Học phân công cho từng người dẫn đường. Tôi sẽ đi theo Lon, cháu bé sẽ được người em cột trèo của Lon tên là Kết chở. Hai Học nói rằng y đã chọn những người dẫn đường tín nhiệm, bảo đảm sẽ đưa chúng tôi đến biên giới. Y còn nói rằng họ có nhiều kinh nghiệm và đã thành công đưa nhiều người qua vùng nguy hiểm này.


Tôi đòi y cho tôi đi với người dẫn đường cho anh Nhơn và đứa con anh, nhưng y gạt đi nói rằng vì lý do an ninh và sự hữu hiệu của cuộc ra đi này y không còn dùng những người cũ. Y khoe rằng y đã chọn kỹ và những người dẫn đường lần này muốn làm ăn lâu dài với y nên họ sẽ nghiêm chỉnh và nổ lực làm trọng trách của họ. Tôi hỏi y có đi với chúng tôi không thì y nói không vì y có công chuyện gấp phải về Saigon liền. Một lần nữa tôi thấy bộ mặt giả dối lưu manh của y. Khi còn ở Saigon y hứa với chúng tôi là chính y sẽ đưa chúng tôi đến tận bên kia biên giới, gặp nhân viên Hồng Thập Tự Quốc Tế, chụp hình với chúng tôi để làm bằng chứng là chúng tôi đã đến nơi bình yên, đem về cho gia đình chúng tôi xem. Rồi chúng tôi sẽ phải viết giấy, ký tên để y đem về Saigon lãnh vàng. Như vậy, y đã nói láo để chúng tôi tin tưởng và chịu ra đi, y đã lừa chúng tôi.






Khi còn ở Saigon tôi đã nghe nhiều mẩu chuyện đau thương về những bức hình chụp chung với những tên dẫn đường lưu manh chủ tâm muốn gạt người đi. Bao nhiêu tấm hình được chụp thực sự ở biên giới, tôi không biết, nhưng rất nhiều tấm là giả.


Bọn lưu manh nói là đưa sang đất Thái nhưng kỳ thực mới đến Gò Dàu Hạ hay Châu Đốc chúng đã chụp một bức hình người ra đi đứng bên một nhà chòi cạnh một số tên Miên đen đủi trên đầu có bảng treo một giòng chữ mà người xem không biết là tiếng Miên hay tiếng Thái. Chụp xong, chúng nhốt kẻ muốn vượt biên và bỏ đói hoặc đe dọa để bắt người ấy viết giấy về nhà cho chúng gạt gia đình lấy thêm tiền, thêm vàng. Dăm bẫy ngày sau gia đình ngạc nhiên thấy người nhà mình trở về hoặc nhắn tin họ đang bị nhốt ở đâu đâu đó thì mới vỡ lẽ.


Thật là một kinh nghiệm đau đớn nhưng vẫn chưa đau đớn bằng khi mình tưởng người thân thương của mình đã đi thoát mà không thấy có tin tức gì, không có thơ gởi về, cứ mong chờ hết tháng này sang tháng kia cho đến khi thất vọng không chờ nữa. Đó là trường hợp không may của kẻ ra đi mang theo nhiều vàng bị chúng cướp xong đem thủ tiêu sau khi đã biên giấy về nhà. Chỉ khổ cho người nhà cứ trông chờ, riết rồi cũng đoán chừng rằng đã có chuyện gì không lành xẩy đến, vì nghe nói về những trường hợp tương tự đã xẩy ra. Người đã nằm xuống, đã tìm đến được thế giới tự do hạnh phúc vĩnh cửu, đâu còn biết đau buồn, chỉ để lại nổi đau buồn khó nguôi cho những người ở lại.


Và rồi trước khi y trở về nhà với vợ con y ở khu Bàn Cờ Saigon, Hai Học từ biệt chúng tôi, đưa tay ra bắt tay chúng tôi, chúc chúng tôi may mắn. Chúng tôi, trong lòng sôi sục vì tức giận mà chẳng biết làm gì hơn, cũng đưa tay ra như một cái máy. Cãi nhau với y lúc đó cũng chẳng lợi


ích gì mà có khi lại còn nguy hiểm. Đến hang cọp rồi thì chỉ còn cách là bước vào vì mình đâu muốn rút lui? Bước vào và mong rằng cọp không ở trong hang hay đã ăn no và đang ngủ yên cho mình đi qua hang yên lành, thế thôi.


Tâm trạng của tôi lúc ấy thật bất thường, tôi trở nên ngớ ngẩn, không còn đủ lý trí để phán xét. Có lẽ vì tôi đang ức, đang điên lên vì bị Hai Học lừa một cách trắng trợn mà chẳng làm gì được. Tôi nhìn bộ mặt lưu manh của y, nhớ lại những lời giả đạo đức mà y nói tới nói lui với tôi khi còn ở Saigon. Tôi ức tôi đã ngu, đã mù quáng đến độ nghe y, tin tưởng vào y như một con chiên ngoan đạo tin ở những lời của người giảng đạo, theo y như một đệ tử theo một ông thầy. Trong khi tôi chuẩn bị đi qua cõi chết tìm sinh lộ thì Hai Học trở vế với thiên đường đỏ của cộng


sản, của Mác Lê nin vĩ đại, của bác Hồ vĩ đại.


Nhưng kể từ khi tình anh em khắng khít “môi hở răng lạnh” giữa tiền tuyến Việt Nam và hậu phương Trung Quốc vĩ đại chấm dứt và cuộc chiến tại biên giới giữa hai nước anh em kết nghĩa bùng nổ Hà nội không còn kể đến Mao vĩ đại nữa. Nay thì bạn thành thù, ân tình ân nghĩa đâu còn, Trung Quốc muốn “dạy” cho đứa em vô ơn bạc nghĩa “một bài học” nhưng đâu có dễ, vì đứa em thuộc hạng cứng cổ cứng đầu cũng biết đỡ, cũng biết đánh lại chứ không phải là không. Nay tôi thấy rõ rằng chủ nghĩa mác lê nin chỉ là lý thuyết, thực tế làm gì có thế giới cộng sản, thế giới đại đồng, làm gì có tình huynh đệ giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em? Đều là giả dối bịp bợm, đều là lừa gạt lẫn nhau, ai cũng coi quyền lợi của mình trên hết, có đâu chữ tín trong thế giới cộng sản khi mà những đồng chí bị ám sát, thũ tiêu, đầu độc?






Và tôi ngớ ngẩn hỏi Hai Học “anh không đi với chúng tôi thì làm sao chúng tôi gởi ám hiệu về gia đình?” Hai Học nhìn tôi như muốn thương hại một kẻ mất trí! Y chẳng buồn trả lời mà để bác Lũy phải nói dùm “mình cứ đưa cho người dẫn đường cũng được chứ gì?” Chưa ý thức được là mình đã ngu muội, tôi hỏi thêm “nhẫn vàng và số tiền mà anh Hai giữ dùm, bây giờ chúng tôi xin lại được chưa?” Ánh mắt của Hai Học đượm vẻ ái ngại. Y chưa tìm được câu trả lời thì tội nghiệp bác Lũy, đang tiếc của, cũng chen vào “Nay đến được đây chúng tôi rất cám ơn ông Hai. Mai chúng tôi đi sớm nên cũng muốn lấy lại chiếc nhẫn mà ông giữ hộ…” Hai Học cắt ngang, giọng nói cau có hằn học “ Từ giờ trở đi mới thật nguy hiểm. Các ông giữ vàng trong người khi bị xét không những mất mà còn bị bắt hay bị giết chết. Giữ vàng để mà toi mạng à? Khi vào đến rừng là vùng kiểm soát của pa ra các ông bị xét kỹ lắm. Không thể giữ vàng trên mình được. Để tôi đổi ra tiền Thái, lúc đến nơi các người của tôi sẽ trao lại cho các ông, mỗi người tám trăm.”


Thật là ngớ ngẩn khi mở miệng ra đòi tiền vào lúc đó. Nhưng thế đó, có thể là do bản năng sinh tồn thúc tôi hỏi. Lúc càng nguy hiểm thì lại càng phải tự trông cậy vào chính mình. Nếu chẳng may có chuyện gì thì phải có tí vàng giắt lưng cho chắc. Tôi tự bảo thầm rằng dù sao thì cũng đã quá muộn. Khôn trăm giờ, dại một phút là thế! Tôi đã thật là khờ. Thay vì giấu cái của quí ấy đi thì lại đem chìa ra nên bây giờ phải chịu. Bác Lũy cũng buồn ra mặt. Bác đẫn đờ nhìn tôi, như muốn chia sẻ với tôi cái cảm giác của những kẻ đã già đầu mà còn dại.






Hai Học giải thích thêm là khi đến vùng đất do lực lượng pa ra trấn giữ chúng tôi sẽ qua rất nhiều trạm kiểm soát, cứ bình tĩnh mà đi, đừng tỏ vẻ sợ sệt hay hoảng hốt, cứ làm như mình đi buôn, mỗi lần qua trạm lính đều phải nộp tiền, người dẫn đường sẽ đưa tiền cho chúng tôi và cứ thấy hắn ta làm sao thì mình làm thế. Y dặn đi dặn lại là chúng tôi phải giữ bình tĩnh, chớ để lộ diện sẽ bị bắt và thêm lôi thôi.






Tôi chưa biết người lính của măt trận quốc gia giải phóng Kămpuchia ra làm sao nhưng tôi đã nghĩ rằng họ về phe tự do, thì tất nhiên là bạn chứ đâu phải là thù? Họ sẽ giúp đỡ chúng tôi trên con đường lánh nạn cộng sản chứ đâu có làm khó dễ hay bắt chúng tôi làm gì? Đấy lại là lối suy luận ngây thơ của tôi, một sự ngây thơ của kẻ quá vội phán xét, phán xét không dựa trên những dữ kiện. Sau này thực tế trái ngược đã làm tôi thức tỉnh, làm tôi thoát khỏi cái thế giới u mê mà tôi đã rơi vào sau sáu năm ở với cộng sản và không dùng đến bộ óc.


Khi vào đến trại tỵ nạn, tôi bỗng nhìn lại được thực tế phũ phàng. Cái thế giới tự do mà chúng tôi mơ ước khi còn ở điạ ngục đỏ không hẳn là tốt đẹp, là lý tưởng thần tiên, là nơi đáng sống. Thực tế sau này là những ngọn roi quất vào tâm khảm, vào tim làm tôi tỉnh trí vá nhận thức


rằng đã đến lúc phải thoát khỏi cơn u mê tối tăm mà những năm đau đớn tuyệt vọng đã buộc tôi phải chìm đắm vào. Tôi đã như con họa mi hát say sưa qua đêm để cho những lọn soắn của cây nho buộc trói chân mình lại mà không hay, khi sáng về thôi hát muốn bay đi mà không được. Có khác chăng là không phải tiếng hát của tôi mà là tiếng tuyên truyền nhồi sọ của kẻ khác đã làm mình u mê đần độn. Tỉnh, phải luôn luôn tỉnh táo nhìn thẳng vào cuộc đời, cuộc đời tàn nhẫn đối với bất cứ ai sông trên trái đất này. Yêu thương chỉ là mộng mơ, hận thù mới là thực tế. Tham lam ích kỷ vốn là bản tính con người, tàn bạo là bản năng thú tính ở cả hai thế giới cộng sản hay tự do.






Khi Hai Học hỏi chúng tôi có còn muốn biết gì nữa không thì tôi biết đã đến lúc y giã từ chúng tôi. Sô Phi và người đàn bà da ngăm đen, có nét mặt hao hao lai pháp hay lai ấn độ, trước đấy đươc giới thiệu vói tôi là cô giáo biết nói tiếng pháp, đã biến đi đâu từ lúc nào tôi chẳng hay. Tôi tiếc là tôi đã không thử cái tài nói tiếng pháp của cô ta. Tôi vẫn nhớ đôi mắt đa tình của người đàn bà ấy nhìn tôi vào cái buổi tối hôm chúng tôi ngủ lại tại Puốc sát. Nàng ngồi xoã mớ tóc đen dài xuống quá vai, tay cầm lược chải, mắt thỉnh thoảng đưa liếc nhìn tôi như thầm bảo tôi “ôm em đi anh! em đang cần một vòng tay ấm ôm em vào lòng!” Nhưng chẳng bao giờ tôi có dịp ôm nàng vào lòng, thật là đáng tiếc! Cuộc ra đi này đã thêm bao thi vị đối với tôi nếu bên cạnh cái thực tế phũ phàng có điểm thêm những nét nên thơ của một cuộc tình ngắn ngủi. Nhưng không, đó cũng chỉ là ảo mộng.


Giờ này em đang ở đâu? Bát Tam Băng hay Puốc sát hay nơi nào trên mảnh quê hương của em? Cuộc đời em chắc cũng lắm trôi nổi, lắm cam go? Em đã đưa đươc bao nhiêu người như tôi từ bên kia sang đến bên này? Tình cảm hay tiền bạc đã đưa em vào cái nghề giang hồ đó? Tôi nghe nói anh em là đại úy para và em tin rằng một buổi bình minh sáng chói nào đó, lúc em thức dạy thì quê hương em đang bừng lên nổi vui của mảnh đất đã thoát khỏi nô lệ và đau thương, quê hương em đã phất phới ngọn cờ tự do độc lập và em có thể vui vẻ trở lại mái


trường, ngồi vào ghế cô giáo hay đừng trước bảng đen, viết lên hai chữ “YÊU THƯƠNG” và


“THANH BÌNH”. Giờ này em còn nuôi dưỡng chăng giấc mộng đó? Và bao giờ giấc mộng của em mới thành hiện thực?






Viết những giòng chữ trên đêm nay trong cái không khí lạnh lẽo của thành phố Cựu Kim Sơn (San Francisco), nơi tôi đang lập lại cuộc đời, sau tám tháng vất vả ở Nữu Uớc (New York), tôi không ao ước gì hơn là gặp lại người đàn bà ấy, người đàn bà Miên mặc chiếc sà rông và áo thêu mầu đen, mầu của tang thương, của chết chóc. Nàng đã mang trên người cái mầu của quê hương nàng, quê hương bất hạnh của những đứa bé có nước da xạm ánh nắng gay gắt, đen đủi, cái màu đen của gụ, những đứa bé mà tôi vẫn còn giữ trong tâm khảm tôi không biết đến bao giờ.






Tối hôm đó tôi và cháu bé ngủ tại căn nhà Lon. Khi trời đã tối hẳn thì Hai Học ra lệnh cho bác Lũy và Hinh Huân theo những tên dẫn đường kia rời nhà Lon đi ngủ nơi khác. Sau đó hắn cũng biến luôn cùng với Bê và Sơ Rin. Tôi chui vào căn phòng nhỏ ở góc nhà nằm, cháu bé nằm bên tôi chập chờn ngủ. Tôi ôm sát cháu vào lòng, dặn dò cháu những lời chót.






Theo kế hoạch thì chúng tôi sẽ ra đi lúc bốn giờ sáng để đến Xi xô phôn vào khoảng mười một giờ trưa. Chúng tôi sẽ ăn cơm và nghỉ trưa cho đến một giờ thì lên đường lên biên giới. Bọn dẫn đường quả quyết là đến ba giờ thì chúng tôi sẽ đến khu vực đường rừng do phe Khờ me tự do trấn đóng. Có thể chúng tôi sẻ phải ngủ lại tại nhà Lon nơi đó rồi sáng sớm hôm sau đi tới biên giới. Kế họach dự trù là như thế. Tôi chỉ biết lơ mơ là từ Bát Tam Băng đến Soay vào khoảng bẩy, tám mươi cây số và từ Soay đến biên giời khoảng năm sáu chục cây số. Chúng tôi sẽ phải đi cách nhau khoảng ba trăm thước hay hơn nửa để khỏi dính chùm, như vậy chẳng may có bị bắt thì không bị cả cụm. Đấy là lệnh của Hai Học.


Tôi muốn đi với cháu bé để thoát thì cùng thoát mà bị bắt thì cùng bị bắt nhưng Hai Học không chịu, bảo tôi phải dẹp tình cảm sang một bên, không được bịn rịn quyến luyến, rất nguy hiểm, cha con đi với nhau rất dễ bị lộ. Y nói dù cho cháu bé có bị giữ lại thì bố vẫn cứ tỉnh bơ, lo mà thoát lấy thân mình. Do đó mà tôi đã nói với cháu rằng vì đường đi nguy hiểm nên hai bố con


phải tách nhau mà đi không được liên lạc với nhau, sau khi đến biên giới bố con đoàn tụ thì tha hồ mà hàn huyên. Tôi cũng nhắc lại cháu tuyệt đối không được nói gì vì nói tiếng Việt sẽ bị bắt liền, rằng mạnh ai nấy lo, bố có bị bắt mà con không thì con vẫn phải đi và ngược lại con có bị bắt mà bố không thì bố vẫn đi không thể ở lại với con đươc, thoát đuợc người nào là may người đó. Thật là đau lòng khi phải nói ra những điều đó, và mắt tôi nhòa đi, giọng tôi run run như thể tôi đang thổn thức. Con tôi thì rất gan dạ, chấp nhận mọi thử thách và trớ trêu của định mệnh. Tôi thấy vẻ mặt cháu đanh thép lại khi nói “Bố cứ yên tâm, có đi là có chịu. Con không sợ gì cả. Bố khỏi lo cho con!”.






Thấy cháu trưởng thành về tư tưởng tôi cũng mừng vì cuôc hành trình gay go ngày mai sẽ dễ dàng hơn cho chúng tôi. Nhưng tôi cũng cảm thấy đau nhói trong tim khi thấy đứa con trai yêu dấu đã sớm phải đương đầu với những cam go, đã sớm phải từ giã cái thế giới hồn nhiên, ngây thơ, vui chơi của tuổi mười hai để bước vào cái thế giới đầy lo âu, suy tư của người lớn. Rồi tôi bắt cháu học thuộc địa chỉ của chú nó ở Pháp, để cháu liên lạc được với người nhà trong trường hợp một mình cháu đi thoát. Tôi cũng dặn cháu là phải tìm cách biên thơ cho mẹ cháu qua chú nó vì không thể viết thẳng từ trại tị nạn được. Trường hợp cháu bị bắt thì phải viết giấy về nhà càng sớm càng tốt rồi nhờ ai cầm về cho mẹ. Tôi chẳng nhớ tôi còn dặn dò cháu những điều gì khác nữa. Tôi chỉ nhớ rằng lúc đó tôi cảm thấy đau đớn lạ lùng, nước mắt tôi cứ trào ra, tôi ôm cháu sát vào tôi, nghẹn ngào. Tôi cảm thấy trong người một điều gì lạ thường nhưng không phải là linh tính của một chuyện gì ghê gớm sẽ xẩy đến. Thật là lạ lùng! Phải chăng đó là dấu hiệu của định mệnh bắt tôi ngày sau đó phải xa cách cháu, phải để cháu lại ở nhà tù vùng biên giới mà đi tìm lối thoát thân một mình.


Nếu mà cháu đã không bị bắt lại thì giờ nay cháu đang là nguồn an ủi cho tôi, hai cha con đang dựa vào nhau mà cùng bước trên con đường tương lai mỡ rộng. Trong khi tôi ngồi đây trên đất Mỹ thì con tôi mới được thả về từ nhà tù Chí Hoà, sau hơn một tháng bị cầm tù bên Miên và sáu tháng bên xứ mình. Chính cháu đã phải hứng chịu nghiệp quả cho cha nó, như lời anh Hoằng đã nói khi tôi mới đi thoát. Nhờ có cháu đi theo mà tôi đã không chết, số của bố con tôi đã định như thế, con tôi đã cứu mạng tôi, nó đã phải hy sinh cho tôi được sống cho đến bây giờ.














Trong khi cháu đã ngủ yên giấc thì tôi vẫn thao thức, trăm ngàn ý nghĩ xâm nhập đầu tôi. Không hiểu sao nước mắt tôi lại trào ra khi tôi lại nghĩ đến vợ con tôi đang ở lại bên nhà, tôi lại muốn quay trở về, tôi lại thấy sự ra đi của tôi thật vô lý, tôi lại cảm thấy quá nhiều khó khăn trong cái tương lai mù mịt mà mình sẽ không chống chọi nổi. Tôi lại muốn trở về để sống an phận với gia đình, tôi sợ cuộc sống tha hương và bổng nhiên quên đi tất cả những khổ đau và ước vọng khi còn ở Saigon. Tôi trằn trọc mãi không tìm được giấc ngủ. Tôi bèn ngồi dậy lấy giấy ra viết thơ về nhà. Tôi sẽ nhờ Hai Học cầm những thơ này về cho vợ tôi.


Từ lúc ra đi tôi đã viết được ba lá thơ từ Nam Vang, Puốc Sát, và Bát Tam Băng. Tôi đã kể lại mọi diển biến của cuộc ra đi này không những để vợ tôi thấy những khó khăn mà cháu bé và tôi đã phải trải qua, mà chủ yếu là để vợ tôi biết đường mà cứu nếu chẳng may chúng tôi hoạn nạn. Trong những thơ đầu tôi đã tả nổi hân hoan của kẽ đang thực hiện giấc mơ, đang sung sướng được ra đi, tôi đã tả những bữa cơm ngon mà suốt trong sáu năm trước tôi không còn được ăn, được uống, những món như gà nướng, tôm nướng, thịt bò lúc lắc, lẩu, bia Nhật. Tôi cũng tả lần tắm sông trên cồn cát giữa giòng sông Bát sắc. Pha trộn vào nổi hân hoan đó có ít lo âu như lúc chờ đợi ở Châu Đốc, lúc trên ghe đi Nam Vang, nhưng nói chung tôi đã viết những thơ đó trong sự bình tỉnh, trong sự chủ động của tâm hồn. Càng những thơ sau càng biểu hiện sự căng thẳng, nổi lo sợ, sự đau đớn của tôi. Hết còn nổi lý thú của lá thơ kỳ trước, chỉ còn sự khốn khổ phải chịu đựng. Tôi kể những cảm xúc của tôi và cháu bé, nổi nhớ nhà của chúng tôi, sự lo âu đè nén, những linh tính, nổi buồn phải ra đi, và ý muốn trở về. Tôi đã trong mê sảng khi tả nổi thống khổ của tôi, một kẻ từ nay không còn gì trong tay, một kẻ đã ra đi để lại nơi quê nhà tất cả những gì quí báu nhất trên đời.


Lon thấy tôi không ngủ được lấy cho tôi một ly nước nóng. Tôi uống hai viên aspirine mà tôi đã mang theo. Lon ái ngại nhìn tôi, nhưng anh ta cũng chẳng hơn gì tôi nhiều, cũng bồn chồn, cũng lo lắng, cũng mất bình tĩnh và sợ sệt. Ai đâu mà không sợ hiểm nguy? Tôi nghe nói những người lính chuyên nghiệp khi ra trận chạm chán với địch, khi đạn chưa nổ ròn, mùi thuốc súng chưa khét lẹt, chưa làm say máu cũng vẫn có cái cảm giác sợ hãi nghẹt thở ấy. Người đi dây trên không trung hay đánh đu trên cao khi làm xiếc cũng hồi hộp sợ lúc sắp phải ra biểu diển. Tôi đã đọc được trong một tạp chí ngoại quốc lời giã từ của một ông vua đấu bò ở Tây Ban Nha khi ông tuyên bố về hưu. Ông nói rằng không phải vì nay ông đã có nhiều tiền, cũng không phải vì nay ông đã già mà ông thôi không hành nghề đấu bò nữa, mà chính là vì ông chịu nổi sự căng thẳng tinh thần, sự hồi hộp lo âu mà ông phải chịu trước khi ra giáp mặt với con bò mộng khổng lồ và hung tợn.


Nhưng có sợ chăng cũng chỉ là lúc đầu, lúc chưa đương đầu với hiểm nguy. Một khi đã nhập cuộc rồi thì có sợ cũng vô ích, có chạy trốn cũng không xong, nên phãi chấp nhận đương đầu với hiểm nguy và sự sợ hãi cũng tan biến mất, hay ít ra cũng giảm đi nhiều.


Trường hợp của Lon cũng vậy. Tuy anh đã quen cái con đường dẫn lên biên giới này, tuy anh đã đưa biết bao nhiêu người trước tôi, nhưng trước khi dấn thân vào con đường đầy nguy hiểm đó, anh vẫn cảm thấy bồi hồi, anh vẫn lo sợ, lo sợ rằng có đi mà không có về như bao nhiêu người dẫn đường khác, lo sợ rằng vợ con anh sẽ không còn ai để nương tưa vào, lo sợ rằng anh chết mà không có ai chôn cất như bao nhiêu người khác đã bỏ mình trên tuyến đường này.


Nơi đó thần chết có nể gì ai? Viên đạn của tên bộ đội biên phòng hay trái mìn chôn ở vùng biên


giới không hề phân biệt kẻ vượt biên hay người dẫn đường. Chỉ một cử chỉ sai lạc, hay không đúng lúc là những viên đạn AK sẽ ghim vào đầu hay người mình. Chỉ môt bước trệch sang một bên hay trợt té là trái mìn làm mình banh xác trên con đường mòn mình đang đi.


Nhưng nói cho đúng ra đó là định mệnh. May ra Trời Phật cứu được mình. Hay ít ra thì mình còn tin tưởng như thế. Và tôi đã thấy Lon đốt một bó nhang lớn, phân nửa đem cắm nơi bàn thờ Phật trong nhà, nửa kia đem ra sân vái ông Trời để xin được phù hộ. Anh lẩm bẩm những gì tôi không nghe và giả sử có nghe tôi cũng không hiểu, nhưng tôi biết anh đang cầu khấn cái gì. Vì chính tôi cũng đã không hương nhang cầu khấn Trờì Phật phù hộ cho hai bố con tôi tai qua nạn khỏi suốt mấy ngày vừa qua.






Tôi không buồn nói chuyện với Lon mặc dù nói chuyện sẽ giúp chúng tôi dễ thở hơn, giúp chúng tôi quên đi phần nào nổi lo âu đang đè nén lên tâm hồn chúng tôi và làm cho thời gian chóng qua. Tôi nhìn Lon ngồi ở thềm cửa hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Tôi không hiểu anh đã hút bao nhiêu điếu, nhưng tôi cứ thấy anh chưa hút hết điếu trên miệng đã cầm trong tay chiếc lá khô, bỏ thuốc hút vào và quấn thành một cục to hơn đốt tay cái. Tôi không biết có phải tại không có giấy vấn thuốc hay tại đó là tục lệ của dân Miên, mà Lon lại dùng lá cây khô, nhưng tôi nhớ những ngày ở tù chúng tôi đã vấn thuốc bằng giấy báo. Lá khô dòn tôi đã thử vấn một lần mà không được vì lá gẫy điếu thuốc có lỗ hở hút không được. Tôi nghĩ vì không vấn được nhưng điếu thuốc nhỏ mà dân Miên đâm ra nghiện thuốc rất nặng.






Lúc đã gần sáng, gà đã gáy xa xa, Lon lại gần tôi lấy cái ly không và nói vời tôi bằng tiêng tây bồi “toi dormir! Demain nous partir très tôt” (mày đi ngủ đi! Mai chúng ta đi sớm!). Và tôi đã ngủ được bao lâu? một tiếng hay hai tiếng? Vì tôi không có đồng hồ nên tôi đã mất hết ý niệm thời gian. Tôi chỉ biết rằng trời còn tối đen khi Lon lại đánh thức tôi dậy và nói với tôi rằng “Chúng ta đi!”. Đi thì đi chứ sợ gì? Còn đâu chọn lựa nữa? Chỉ còn tiến chứ đâu còn lui?


Khoảng bốn giờ rưỡi sáng Lon, tôi, cháu bé, và người em họ của Lon tên Kết rời căn nhà của Lon để lên đường đi Xi xô phôn. Trời còn tối đen như mực, tôi chẳng thấy quang cảnh xung quanh.


Cháu bé được Kết chở xe đạp đi trước. Mươi phút sau Lon và tôi mới đi. Lon dẫn chiếc xe đạp qua những con đường đất đỏ vì nhà anh cách mặt lộ khoảng năm trăm thước. Tôi dù có đeo kính nhưng cũng vấp ngã mấy lần. Lon thì nhanh như cắt, cứ vài phút tôi lại phải kêu anh chờ tôi. Có từ nhà ra đến đường cái mà tôi cũng sợ bị lạc, vì lạc sẽ mất thêm thì giờ và cháu bé bị tên Miên kia dẫn đi xa hơn. Lòng tôi nóng như lửa, tôi bồn chồn lo lắng vô cùng, cái lo lắng của người bố xa con không biết chuyện gì có thể xẩy ra cho con. Con tôi lại còn nhỏ, sao biết tự lo


cho mình? Mà người dẫn đường lại không nói được tiếng Việt! Làm sao cháu liên lạc được với hắn? Lỡ có chuyện gì thì cháu xoay sở ra sao? Tôi lo lắm nhưng làm gì được? Chỉ còn phó mặc cho định mệnh.


Kể từ khi cháu nhẩy lên phía sau chiếc xe đạp rời căn nhà của Lon là tim tôi đập mạnh không ngừng. Tôi cảm thấy bồi hồi, đầu tôi tràn ngập những lo âu vô hình. Từ đây đến Xi xô phon, chúng tôi phải qua năm bẩy chục trạm của bộ đội Việt Nam và lính Miên cộng sản. Liệu cháu với vẻ mặt tuấn tú, nước da trắng không giống Miên tí nào có bị lộ không? Lỡ bị bắt lại thì sao? Tôi nghe nói hàng ngàn người toan vượt biên đang bị giam giữ trong nhà tù ở Xi xô phôn. Biết bao nhiêu người đến được Xi xô phôn rồi mà vẫn phải quay về vì quá sợ bị bắt giam? Mà giả


sử cháu qua được Xi xô phôn thì liệu có tránh được mìn hay bọn cướp hay không? Bao nhiêu


câu hỏi quay cuồng trong đầu tôi. Miệng tôi không ngừng hỏi Lon “Bây giờ con tao đâu?” và


Lon vẫn luôn luôn bình tĩnh trả lời “mày đừng sợ, nó đang ở với em tao”.






Chúng tôi qua một con lộ trải đá lởm chởm và Lôn bảo tôi leo lên phiá sau xe ngồi. Để bớt đau đít, anh đã gấp một bao bố để lên trên poọc ba ga (porte-bagage) và chằng giây cao su, và bên phía phải anh đã đeo một bao bố lớn trong đựng tất cả đồ đạc của năm người trong nhóm tôi. Hôm trước Hai Học không cho chúng tôi mang theo những sắc tay cá nhân vì sợ bị để ý. Y bắt cho hết quần áo và các thứ khác của mọi người vào một bao bố rồi giao cho Lon và tôi giữ. Như vậy chúng tôi có thể giả làm dân đi buôn và tránh bị xét hỏi. Tôi lên ngồi phía sau và Lon leo lên yên đạp, xe loạng choạng suýt té mấy lần. Cuối cùng chúng tôi cũng ra được đến con lộ chính trải nhựa trơn chu. Trời đã ửng sáng, Lon bảo tôi gỡ kính cất đi. Đạp chưa đầy năm phút chúng tôi tới cây cầu, có lính canh, đưa ra ngoại thành Bát Tam Băng.






Nhìn thấy đồn lính mà chúng tôi phải đi qua, tự nhiên tôi run lên vì sợ, cái sợ kinh hồn làm tôi khó thở, tim tôi đập thình thịch, đầu tôi mất cả lý trí không còn biết xử sự ra sao. Lúc còn cách cầu khoảng một trăm thước Lon ngừng và xuống xe, ghé miệng vào tai tôi nói “mày dẫn xe đi trước! tao theo mày đi phiá sau. Đừng sợ, mày đi đi!” Tôi nghĩ “đừng sợ, cứ đi đi, nói thì dễ nhưng làm thì khó. Làm sao tôi có thể bình tĩnh đi qua những mũi AK chiã thẳng vào hông tôi”? Tôi đã phải qua một trạm kiểm soát như thế này đâu? Tôi tự nói trong đầu “Thế nào nó cũng chặn hỏi mày! Mày ú ớ nó sẽ hỏi giấy tờ. Mày không có giấy tờ nó sẽ bắt mày. Mày đòi giả câm giả điếc. Mày đã giả câm giả điếc bao giờ chưa? Liệu chúng nó có tin mày không? Chúng nó chiã AK vào mày, mày còn giả câm giả điếc nữa không? Bao nhiêu ý nghĩ quay cuồng trong đầu tôi.


Tôi lững thững dẫn chiếc xe đi như người không hồn, mắt nhìn thẳng về phiá trước như thể nếu tôi nhìn bọn lính canh thì chúng sẽ chặn tôi lại. Tôi cũng chẳng dám quay lại nhìn xem Lon có đi đằng sau tôi không. Và như thế tôi đã đến gần cầu nơi có cần cản ngang qua lối đi. Trước đồn lố nhố ba bốn tên bộ đội trẻ chẳng biết Miên hay Việt đang ngồi hút thuốc hay ngái ngủ. Tôi đến trước ngay chiếc cần cản, lưỡng lự chưa biết phải làm sao, gập mình xuống chui qua hay tiến lại gần mấy tên lính nơi có lối đi, thì may quá phía bên kia có một tên Miên tay dẫn xe đạp đi tới, gập mình xuống chui qua chiếc cản bên kia cầu. Tôi liền bắt chước làm theo rồi bước đi khỏi nơi nguy hiểm đó, thân thấy nhẹ nhõm như thể mình vừa chút đi gánh nặng ngàn cân. Bước đi nhưng lòng vẫn còn hồi hộp vì lỡ mà bây giờ chúng mới nghi, chúng gọi mình lại thì làm thế nào đây? Chạy, cắm đầu cắm cổ mà chạy, chạy chối chết dù chúng có bắn theo. Trong đầu tôi đã quyết định như thế. Nhưng không có tiếng gọi lại như tôi đã quá lo xa. Tôi tự nhủ “thật là mình đã khùng! Có gì đâu mà mình phải lo quá thế? Mình cũng như mọi người bình thường đi qua chiếc cầu đó, có gì để chúng nó nghi mình?” Bấy giờ tôi mới thấy tôi vô lý. Trước khi đến chiếc cầu tôi đã quên là chúng tôi sẽ phải đi qua lối đó, tôi đã quên hỏi Lon trước là phải làm gì để tranh bị xét hỏi. Do vậy mà vào phút chót tôi đã quýnh lên, tự gây cho mình sự sợ hãi quá đáng.






Tôi khoan khoái dẫn xe đi xuống con dốc nơi chân cầu đưa tôi đến một ngã ba. Lon không dặn tôi phải đi lối nào, tôi bèn đi chậm lại hy vọng Lon sẽ bắt kịp, nhưng thời gian dường như đi chậm lại, tôi chẳng thấy anh ta đâu. Ruột gan tôi lại nóng bỏng, tôi cứ sợ anh ta đã bỏ tôi rồi. Tôi tính quay trở lại xem sao nhưng quay trở lại không được vì lại phải đi qua bọn lính gác,


chúng nó sẽ nghi. Hay ngồi lại ở đây chờ? Nhưng lỡ chúng nó thấy thì sao? Tôi bèn rẽ phải, ngả xe xuống đất, tìm một bụi cây bên đường đứng đó giả vờ đi đái. Ngay lúc ấy có tiếng gọi nhỏ của Lon “nous aller, vite! (thôi, đi thôi!)”. Lon đã ngồi trên yên xe đợi tôi.


Tôi mừng rỡ leo lên xe hai tay ôm lấy eo anh ta cho vững, miệng nói “mày làm cái gì lâu vậy? mày đã làm cho tao sợ!” Lon nói khẽ “ Câm mồm đi! Nguy hiểm!” Chẳng mấy lúc mà chúng tôi đã đi khỏi Bát Tam Băng. Trời đã sáng, chắc đã phải năm giờ. Hai bên đường đã nhộn nhịp người đi lại. Những xe vận tải đêm qua ngủ lại ở ngoại ô Bát Tam Băng nay ùn ùn kéo nhau vào thành phố. Những đoàn xe đạp của những người đi buôn cũng đã lên đường. Họ đi từng toán ba bốn người cười cười nói nói. Lâu lâu có một chiếc xe ngựa chạy qua, không giống


những chiếc thổ mộ bên nhà mà lại giống những xe ngựa ở phương tây nhưng không có mui,


to rộng với hai hàng ghế ngồi trước sau đối mặt nhau. Tại những nơi xe đò ngừng để khách xuống, đôi ba xe ngựa chờ hành khách dỡ hàng hóa xuống để chở về một căn nhà gần đó dường như để trốn bị đánh thuế. Cầu dẫn vào Bát Tam Băng là nơi kiểm soát và bắt hàng lậu đồng thời cũng là nơi mà những con buôn có giấy phép đóng thuế khi xe đò hay xe vận tải đi qua.






Ngày tôi chạy thoát về Bát Tam Băng, ngồi trên một xe vận tải nhỏ hiệu Isuzu của Nhật mang dấu hiệu UNICEF ở hai bên cánh cửa, chở gạo từ biên giới về là chính và chở những bao bố hàng của con buôn về là phụ, tôi đã được nghe một người đàn bà Việt đã sống lâu ở Kămpuchia kể lại rằng đi buôn là cũng như đánh bạc, lời cũng nhiều mà lỗ cũng lắm, chẳng may mà bị bắt có thể bị sạt nghiệp.


Nhiều người may mắn trở nên giầu to và khi đó chẳng sợ nữa, vì mất keo này thì bầy keo khác, nếu bị bắt thì lại nộp vàng hay đô la để chuộc hàng ra vì ở vùng biên giới này chẳng luật nào mạnh hơn là luật của vàng và đô la. Ngược lại, những con buôn tép riu không có nhiều vốn chết dở sống dở nếu bị chặn bắt và hàng hóa bị tịch thu. Lúc đầu buôn nhỏ, họ đi bằng xe đạp, hàng hóa được thồ từ biên giới từ biên giới về, bán lại cho những con buôn ở Xi xô phôn. Hàng lậu lại được chở về Bát Tam Băng.






Tôi nghe nói từ giấc trưa trở đi, trên những con đường rừng, hàng trăm chiếc xe đạp chở hàng lậu chạy vui vẻ cười nói trong tiếng nhạc Thái, nhạc Miên phát ra từ ra đi ô hay cát sét đeo trên vai, làm vang dội cả khu rừng đầy hồn ma này. Tiếng cười đùa của kẻ còn sống, lẫn với tiếng khóc than của những kẻ đã chết oan ức trong tủi hận nơi khu rừng âm u lạnh lẽo ấy. Phải bước chân vào khu rừng già này mới cảm thấy được cái không khí ghê hồn của nó. Giữa trưa gay gắt, nếu đi ngoài kia trên những cánh đồng cháy khô mình sẽ bị mặt trời nóng như thiêu như đốt làm xạm đen nước da, khô ráo người mình. Ấy vậy mà nếu bước vào cánh rừng này thì mình lại có cái cảm giác lành lạnh, cái cảm giác lành lạnh khác thường, không như khi mình bước vào một rạp xi nê có máy lạnh mà là cái lành lạnh làm cho mình dựng tóc gáy, nổi gai ốc, cái lạnh ghê hồn của nhà mồ, cái lạnh của chết chóc, của điạ ngục. Lạnh mà ẩm vì dưới bóng âm u của những cây cao, sống từ bao lâu nay, những cây to lớn một người dang tay không ôm hết vòng thân cây, với vỏ ngoài sần sùi, dễ cây mọc trồi mặt đất, dưới bóng những cây đó là những vũng nước đọng, những bãi xình lầy mang dấu vết bánh xe của những đoàn xe bò chở gạo và những dấu chân của những kẻ như tôi đã phải băng qua nơi này để đi tìm tự do, đi qua địa ngục để mong đến thiên đàng.


Ra đi thì ra đi, nhiều khi không đến nơi vì nếu mình bất hạnh thì chẳng những bị cướp, bị hãm hiếp, bị đánh đập, bị làm nhục mà còn bị thủ tiêu, chết bỏ xác tại chỗ. Con đường kinh hoàng đưa chúng tôi đến vùng đất hứa mà chúng tôi bị bó buộc phải dấn thân vào là những con đường rừng, đường núi dài bất tận đi mãi không hết, đi ngày này qua ngày kia để rồi chỉ thấy sậy là sậy, tre là tre hoặc những cây cổ thụ như vừa kể. Đôi khi chúng tôi qua một khu rừng thưa, với những cây mới mọc được một vài năm, cành lá chưa um tùm, thân còn thấp, dấu hiệu của một vùng cây đã bị đốn cách đó vài năm. Tiếng chim chóc, tiếng vịt rừng quàng quạc, tiếng chân chạy của những con vật vô hình, tiếng bò sột soạt của thằn lằn hay rắn, tiếng kêu của ểnh ương hay nhái, và đôi khi cả tiếng gầm của cọp lẫn vào những tiếng của thế giới bên kia như tiếng thở dài rên rỉ hay tiếng than vãn, tiếng khóc lóc hay kêu gào ghê rợn của những oan hồn.


Giờ đây viết lại những gì đã xẩy ra cho tôi trên con đường kinh hoàng đó, tôi không hiểu đó là dữ kiện hay là cảm giác do tôi đã tưởng tượng ra trong khi mình quá yếu, quá sợ, quá tuyệt vọng sau bao nhiêu ngày đi trong rừng mà không tìm được lối ra, khi đôi bàn chân đã sưng phù lên vì phải đi đất, đôi dép mủ đã rách từ hồi nào, đôi chân không còn đứng nổi, chỉ còn bò hay lết đi dưới đôi cánh tay chống đỡ của người dẫn đường tên Lon, người ân nhân của tôi. Phải, vì Lon đã nhất định không cho tôi nằm chết trong cánh rừng đó, mặc dù bao lần tôi van xin anh cứ để tôi lại đó mà đi về với vợ con đang mong anh ở nhà. Anh xốc tôi lên, kéo tôi đi, tôi loạng choạng đi được chục bước rồi lại gục xuống nằm như chết. Anh đến một bãi xình lầy, có khi có cả xác chết bên cạnh, lấy nước cho tôi uống, rồi dựng tôi dậy, cho tôi ngồi dựa vào một hòn đá hay một thân cây rồi anh nói “ toi rester ici. toi attendre moi. Moi aller chercher riz toi manger” (anh ngồi đây chờ tôi, tôi đi kiếm cơm cho anh ăn). Lúc đó tôi nghe anh nói mà chẳng hiểu anh nói gì, tôi đã ở trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh, chẳng còn muốn biết anh làm gì hay nói gì, chỉ muốn anh để tôi yên thân ngồi chờ chết. Thế rồi Lon biến đi, có khi cả hai ba tiếng mới trở lại với vài nắm cơm, con cá khô và bi đông (bidon) nước, nhét cơm vào miệng tôi bắt tôi nuốt, bắt tôi sống lại để rồi ngày hôm sau cảnh đó lại tái diển.


Đối với chúng tôi, những kẻ sẵn sàng chấp nhận chết để có được một cuộc sống của con người, một cuộc sống thực sự, không bị đầy đọa, không bị ức bách, một cuộc sống đáng sống, không còn gì làm chùn chân chúng tôi được. Để thoát thân khỏi địa ngục đỏ, những con đường rừng đó, dù có ghê hồn đến đâu cũng không thể ngăn trở được bước tiến của chúng tôi. Chúng tôi đã khép những cặp mắt trừng trừng nhìn cuộc đời lắm cay đắng, đào đất chôn những cái đầu bị lìa khỏi thân xác để giữa ngay lối đi, cầu nguyện cho linh hồn của những ai đó đã vô phúc lìa đời trên những con đường mòn, xa gia đình, xa quê hương. Đó là những con đường rừng lịch sử đối với chúng tôi và con cháu chúng tôi sau này vì chúng tôi qua những con đường đó để có ngày mai tươi sáng, không những cho chúng tôi, mà còn cho những thế hệ sau này của chúng tôi nữa. Ngày nay tôi ngẩng cao đầu kiêu hãnh nhìn các con cháu, kể lại cho chúng nghe cuộc hành trình gian khổ đó và viết lại những giòng này để lại cho con cháu của những con cháu tôi.






Thoát khỏi những con đường đó, chúng tôi đã thoát khỏi cái thế giới tầm thường của tranh dành ghen ghét, của hận thù ân oán, và của quyền lợi vật chất. Những con đường đó đã làm vơi đi lòng ham muốn nơi chúng tôi, làm chúng tôi nhìn cuộc đời dưới một lăng kính khác, một cuộc đời trong đó tình cảm và yêu thương quan trọng hơn là tiền bạc và châu báu, lòng người quí hơn là những xa hoa phù phiếm.






Qua những đau khổ của chính mình, tôi cảm thông dễ dàng với những đau khổ của kẻ khác, tôi hiểu rõ hơn tâm trạng của những ai đang bất hạnh, đang bị cuộc đời đầy đoạ, dầy vùi. Tôi sót sa cho những con mắt đã khóc, đã tuôn ra bao nhiêu nước mắt, ôi nước mắt chảy thành giòng, thành sông đổ xuống quê hương tôi! Thương sao giòng nước mắt đổ xuống đôi gò má của những trinh nữ khóc thân phận mình, giòng nước mắt của những người goá phụ khóc chồng, những bà mẹ khóc con! Thương sao giòng nước mắt của những kẻ bất hạnh khóc cuộc đời mình và những kẻ như tôi khóc cho quê hương yêu dấu!


Thật là buồn cười, thật là phi lý khó tin! Con đường rừng lại có thể làm con người thoát khỏi chính mình, thoát khỏi cái hiện thực, cái cuộc đời nhảm nhí vô nghiã! Buồn cười nhưng chẳng cười được lên tiếng vì quá cay đắng, phi lý mà phải chấp nhận không lý luận, không phản ứng, khó tin đối với những ai chưa bao giờ dấn thân vào con đường rừng đó, chưa bao giờ có cơ may để trở thành con người!


Làm sao có thể thấu hiểu được cuộc sống nếu không dấn thân? Làm sao biết được giá trị của tình thương nếu không đau khổ? Dù cho rằng bên ngoài ra vẻ chai đá nhưng bên trong con tim


vẫn thổn thức, kinh nghiệm đó chỉ những kẻ bị định mệnh dập vùi mới hiểu được. Cũng như nếu suốt đời chỉ ở nhà thì sao nếm được mùi nhớ nhung của kẻ ly hương, làm sao thấm thía được những nấc nghẹn của kẻ phải lià xa quê nhà?


Đang đi ngon trớn bổng Lon thắng xe lại, nhìn trước nhìn sau như thể muốn tìm một cái gì, vẻ mặt lo âu sợ sệt. Tôi hỏi anh “ cái gì thế?” thì anh trả lời “câm đi!”. Tôi vừa bực mình vì câu trả lời thô lỗ ấy vừa lo vì không biết chuyện gì đã xẩy đến. Rồi Lon xuống xe và bảo tôi ra phía trước đạp. Tay anh nắm chiếc poọc ba ga vừa chạy theo vừa giữ chiếc xe cho tôi chuyệnh choạng đạp, vì tôi chưa quen với chiếc xe cao lồng ngồng của anh. Đường thì gồ ghề, lởm chởm đá, chỗ cao chỗ thấp, con đường bị bom đạn phá hủy hoàn toàn vào cái thời Lon Non, thời còn quốc gia chống lại cộng sản, suốt bẩy mươi cây số con đường dẫn từ Bát Tam Băng đến Xi xô phôn không còn dấu tích gì của một con đường trải nhựa xưa kia nữa! Nay nó chỉ còn là một con đường đất đỏ lồi lõm với những đường chạy ngoằn ngoèo của những bánh xe đạp do những đoàn con buôn ngày đêm lăn bánh trên đó. Thật tôi khó tả nổi cho thật trung thực con đường đầy ý nghĩa đó, bẩy mươi cây số gian nan nhưng thấm thía, đượm ý nghĩa văn nghệ, mang mầu sắc của cuộc đời mình, của khổ công miệt mài và mồ hôi nước mắt. Hai bên đường cách khoảng xa vẫn còn những cột trụ xi măng lùn tịt lỗ chỗ những vết đạn, lờ mờ chỉ những khoãng cách đã đi và sẽ còn phải đi để tới một nơi nào đó: Xi xô phôn 40km; Poi pét 150 km; Arania pranet 200 km.


Đi trên con đường đó, tôi mường tưởng đến thời vàng son của thực dân Pháp và Si A Núc, khi mà những đoàn xe hơi bóng nhẫy hiệu tây nào Pơ Dô (Peugeot) nào Xi trô En (Citroen) lăn bánh trên những con đường trải nhựa trơn tru, đưa những ông tây bà đầm và những mệnh phụ Miên “tâu Xiêm”.






Những ngày tôi bị cầm tù nơi biên giới Thái Miên, tôi đã nói chuyện với Bác Hai, một người Việt lớn tuổi đã cả đời sinh sống ở Cao Miên, Xiêm và Lào. Năm ấy bác Hai cũng đã ngoài sáu mươi, tóc đã bạc phơ, da đã nhăn nheo nhưng tướng vẫn còn khỏe, chuyên ở trần chỉ quấn chiếc xà rông, miệng phì phèo điếu Samít. Bác Hai nói với tôi rằng sau khi Khờ me đỏ lên nắm chính quyền ở Nam Vang vào năm bẩy lăm, thì hai năm sau, vào ngày ba mươi tháng tư năm bẩy bẩy, chúng ồ ạt tấn công vùng biên giới với Việt nam, hàng mấy chục ngàn người Việt sống ở Cao Miên bị đuổi về nên bác mới có cơ hội về quê mẹ sinh sống. Nhưng chịu đựng được bốn năm rồi bác cũng lại phải tìm đường ra đi.


Bác Hai đã kể cho tôi nghe những ngày vàng son của đời bác bên đất Miên. Đó là những năm năm mươi, khi thực dân Pháp còn thống trị cả ba nước Đông Dương Việt Miên Lào, bác đã mở một công ty đi thầu cho nhà cầm quyền và quân đội Pháp. Bác đã đi khắp Cao Miên và Lào để thực thi những kế hoạch mà bác đã nhận thầu và sau khi hoàn thành công tác do hợp đồng đề ra bọn quan pháp thường giữ bác ở lại chơi dăm ba ngày, tha hồ vui chơi ăn uống, nhẩy đầm trai gái, hết đêm này sang đêm kia. Nhiều khi bọn pháp còn kéo bác sang bên Thái Lan chơi, bác đi riết quen đường đi nước bước, quen bọn lính pháp kiểm soát biên giới, sau này bác muốn lúc nào đi thì đi và mỗi khi về thì bác lại khôn khéo mua vải lụa và các đồ mỹ nghệ về làm quà cho các quan pháp có vợ Việt hay Miên, thế là vui vẻ cả hai đàng. Thời đó có cả đường nhựa cho ô tô và đường rầy xe lửa xuyên biên giới đi từ Cao Miên sang Xiêm La, hành khách đi qua lại không cần chiếu khán thông hành gì chỉ cần giấy cho phép của các quan đầu tỉnh hai bên.






Ngày nay những vết tích lịch sử vẫn còn đó, vẫn con đường cho ô tô và xe lửa, vẫn những trụ xi măng mang lờ mờ tên những thành phố xa lạ đối với tôi, những trụ xi măng đầu tròn quét vôi trắng mà tôi đã thấy trên những con đường Hànội-Hải Phòng hay Hải Phòng-Đồ Sơn khi, còn nhỏ, tôi theo bố tôi đi công tác hàng tháng trên chiếc Tắc Xông Keng (Citroen traction quinze) đen mà tài xế mỗi sáng chùi bằng dầu lửa vá nước cho bóng nhẫy. Những ngày ấy hiện ra trong đầu tôi như mới hôm qua đây, khi tôi còn là đứa bé nhỏ mơ ước được lái ô tô, ngồi vào ghế của bác tài, hai tay nhỏ ôm cái bánh lái, miệng giả làm tiếng máy xe rù rù, lâu lâu lại pim pim ra hiệu bóp còi, tay phải đôi khi cũng lắc cây cần sang số dài thoòng bắt xuống sàn xe, ở đầu có quả đấm nhỏ mà tay với không tới.






Nhưng thời thế đã thay đổi, lịch sử đã chuyển biến, trên những con đường này nay chỉ còn những đoàn xe đạp của những con buôn tép riu liều mình đi kiếm tiền, để mong một ngày nào đó cũng giầu có như những tên buôn gộc ngồi tại Bát Tam Băng chờ đàn em mang hàng về


cho mình. Trà trộn vào những đoàn con buôn đó, có những kẻ như tôi, có đi ít có về mà cũng ít có tới, vì đi là đi luôn, đi hối hả, hấp tấp chưa tới biên giới Thái đã biệt tích, đã ra đi vĩnh viển, đi vào thế giới của vĩnh cửu, của cực lạc, của thiên đàng, hay của niết bàn.






Khi thấy tôi đã có trớn, Lon nhẩy phóc lên đằng sau xe, làm tôi lảo đảo suýt ngã. Tôi vội kìm ghi đông, chiếc xe đảo qua, đảo lại rồi cũng trở lại thăng bằng, tôi lấy hết sức đạp mạnh cho xe chạy tới.


- Thắng chỗ nào, Lon?


- Thọc chân lên đè vào bánh đằng trước! Không có thắng!


Chiếc xe cũ kỹ thế mà tốt! Con đường đỏ lởm chởm đá, cục to cục nhỏ, nhỏ thì cũng bằng quả trứng vịt mà to thì bằng trái dưa hấu, lồi lõm những hố, ổ gà thì to hơn cái nia sàng gạo vậy mà nó chịu đựng được. Đi đường trường mà đường lại xấu như thế thì cần nhất là cặp vỏ và Lon đã thay một cặp vỏ mới và đã bơm bánh xe cứng nhắc. Vì thế mà chiếc xe lại càng sóc, mỗi lần nhẩy xuống, nhẩy lên một ổ gà, óc tôi như muốn long ra, hai cánh tay như muốn bật khỏi chỗ


nắm ghi đông, và tim như muốn nhẩy ra khỏi lồng ngực. Thế nhưng tôi vẫn miệt mài đạp,


nghiến răng lại đạp như khi trước tôi đã đạp xích lô chở hơn tạ gạo lại thêm con mẹ lái buôn to như con heo nái ngồi trên ghi đông mà phải qua chiếc cầu Trương Minh Giảng!


Và tôi chẳng buồn tránh những lỗ trên đường nữa, cứ để chiếc xe chạy nhẩy vào bao nhiêu ổ


gà thì vào.


- Mày không biết đi xe đạp à?


- Sao lại không biết? Tao đâu có ngu đến vậy?


Lon cười. Anh đưa điếu thuốc lên miệng châm lửa rồi đưa ra phiá trước cho tôi, chúng tôi như thế vừa hút chung điếu thuốc, vừa nói chuyện luyên thuyên, đủ thứ chuyện cho quên mệt, cho thời gian mau qua, và nhất là vì giữa tôi và Lon dường như có một mối liên hệ khác hơn là vì tiền bạc, một liên hệ không phải chỉ giữa tôi và anh dẫn đường.






Lon kể cho tôi nghe là anh hơn tôi mười tuổi, trước là hạ sĩ trong quân đội pháp và quân đội hoàng gia, đã có hai đời vợ, người vợ sau là Miên lai Việt. Trông anh tưởng chừng như anh đả sáu chục, tóc đã bạc nhiều, má đã hóp lại, gày gò đen đủi, vẻ mặt hốc hác, hằn rõ những nét chịu đựng khó nhọc trong cuộc đời. Vì mới lấy vợ lại nên ba con anh đều còn nhỏ. Anh nói anh không đi buôn vì không có vốn, chỉ sống bằng cách dẫn đường cho người vượt biên. Và lại tôi thấy anh dù có tiền cũng không thể đi buôn được vì anh quá mộc mạc, quá thực thà nhân đạo, quá nhiều tình cảm. Sau này tôi lại càng thấy anh đầy tinh thần trách nhiệm, quá trung thành và rất đạo đức. Lon quả là hình ảnh trái ngược với Hai Học.


- Dẫn tao đi mày được bao nhiêu tiền?


- Hai chỉ


- Hai chỉ thôi à?


- Ừ, hai chỉ


Vậy mà Hai Học nói phải trả mỗi người dẫn đường sáu chỉ và năm trăm tiền Thái giắt túi đi đường làm lộ phí, chi tiêu ăn uống. Hai chỉ! thật là quá rẻ, quá rẻ đối với tên dẫn đường mà tôi đã gặp trên mui toa xe lửa đi từ Puốc Sát đến Bát Tam Băng. Hai chỉ vừa đủ để làm một bữa


ma chay và một đám tang đơn sơ cho hắn, sau khi hắn bị bắn chết khi cắm cổ đạp tính chạy


trốn lúc chúng tôi bị chặn lại nơi trạm kiểm soát ở ngoại ô Xi xô phôn. Hai chỉ mua được những gì khi sống? Thật là quá rẻ để phải mất mạng!


Chẳng nguy hiểm như thế thì sao đêm qua Lon lại phải chằn chọc, phải thức suốt, phải suy tư, phải tìm nơi hơi thuốc sự an ủi cho nổi sợ hãi của mình? Cái nghề dẫn đường này không ngon ăn. Lần nào cũng ra đi nhưng có thể có lần không trở về. Chẳng cần chồng phải ra chiến trận vợ mới lo âu. Vợ Lon cũng như vợ những tên dẫn đường khác và những kẻ đi buôn đường biên giới, những người vợ hiền hòa đó đều thót tim chờ đợi chồng về, họ đều ở trong cái tình trạng phập phồng, lo sợ rằng một người bạn hớt hãi chạy tới nói trong hơi thở nghẹn ngào “anh ấy bị bắn! Chết rồi!”, phập phồng chờ đợi cái giây phút đó để ngất đi hay để oà lên khóc? Hay để can đảm chấp nhận định mệnh, với vẻ mặt thẫn thờ của con người đã đón đợi từ lâu sự cay nghiệt của số phận mình? Làm vợ những kẻ vào sinh ra tử là chấp nhận cái thân phận của người đàn bà goá chồng. Ngày họ nhận được hung tín cũng là ngày họ chút được cái gánh


nặng đè lên tâm trí họ khi người chồng vắng nhà, cái sự lo âu ám ảnh họ bao đêm thâu, là ngày họ được giải thoát, được cứu rỗi, một lần cho rồi! Đó là cái mâu thuẫn giữa đau thương và hân hoan, cái nghịch lý giữa khóc và cười.






Chẳng bao lâu chúng tôi đã đi được khỏi thị trấn Bát Tam Băng khá xa. Tôi hỏi Lon bao xa thì anh nói cũng đã hơn mười lăm cây số. Chúng tôi đã đi qua hai khu chợ ngoại thành với cảnh buôn bán tấp nập tựa như khu chợ Thủ Đức hay Gò Vấp. Những sạp gỗ được dựng dọc theo hai bên đường và các bạn hàng tụ họp tại đấy buôn bán. Bên trong là những cửa hàng chạp phô, những tiệm cà phê, hũ tiếu, và những cửa hàng bán tạp hoá. Ra khỏi nơi đông đúc đó khoảng năm trăm thước, Lon bảo tôi quẹo vào một con đường đất nhỏ dẫn vào những làng mạc bên trong. Đi được một trăm thước tôi thấy Kết đang đứng dưới một căn lều dựng bên đường, chiếc xe đạp mới của hắn, chiếc xe đạp Trung Quốc hay Thái Lan gì đó, dựa bên cạnh. Khi lại gần tôi thấy cháu bé đang ngồi trên một chiếc ghế dài. Nơi đây là chỗ hớt tóc của một anh thợ ngủ trưa, giờ đó chưa dọn đồ đến làm. Có một chiếc ghế bành và trước mặt một khung gương khá lớn.


Tôi hỏi cháu bé có đói không thì cháu nhìn tôi lắc đầu. Tôi nắm tay cháu, xoa đầu, vuốt tóc, hỏi han thêm đôi ba điều. Lon đứng nói chuyện với Kết một chốc rồi nhẩy lên xe đạp đi đâu tôi cũng chẳng biết. Chúng tôi ngồi đó chờ nửa tiếng thì Lon trở lại trao cho em một xấp giấy bạc mới tinh có chằng giây cao su. Bỏ tiền vào túi xong, Kết bảo cháu bé leo lên xe rồi ra đi. Tôi và Lon còn ngồi lại thêm năm phút nữa để chờ hai người đi một quãng xa rồi mới lên xe đi tiếp. Tôi hỏi Lon những người khác trong nhóm đâu thì anh trả lời đã đi trước rồi. Thì ra đây là điểm hẹn đầu tiên của chúng tôi. Gọi là điểm hẹn nhưng tất cả chúng tôi không gặp nhau cùng một lúc để tránh không bị lộ. Lon là trưởng toán và anh chịu trách nhiệm phối hợp và điều động những người dẫn đường kia trong chuyến đi này.






Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình và tôi vẫn đạp xe và Lon vẫn ngồi phiá sau để tránh bị để ý. Anh nói người ta thường nghi người ngồi sau là kẻ vượt biên, không ai lại nghĩ rằng tôi, kẻ vượt biên, lại ngồi phía trước đạp xe chở người dẫn đường. Lon coi vậy cũng khôn ngoan, nhưng khổ nổi cho tôi là không những phải tự đạp xe mà lại còn phải chở thêm một người đằng sau. Và quãng đường còn lại còn dài, hơn bẩy mươi cây số chứ đâu phải ít đâu. Đi khoảng mười phút thì chúng tôi đuổi kịp tên dẫn đường đèo thằng bé Huân phía sau. Tôi không đeo kính nên không nhận ngay ra Huân, nhưng khi nó thấy tôi nó liền quay đầu về phía tôi và nhăn răng ra cười. Tôi cố đạp xe cho mau để đuổi kịp cháu bé. Gần một năm đạp xích lô miệt mài, tôi đã có được phong độ của một tay đạp xe chuyên nghiệp nên mặc dù chở Lon, mặc dù đường xấu, tôi vẫn đạp phom phom, đạp nhanh, đạp hết sức mình, trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ, làm sao đuổi kịp cháu bé để đi gần cháu. Khi đi ngang xe Huân, tôi hỏi “Bác Lũy và Hinh đâu?” thì cháu trả lời không biết và tôi hỏi sao không biết thì cháu bảo cháu được chở đi trước, cả bác Lũy lẫn Hinh đều đi sau. Tôi bắt đầu lo vì như thế chúng tôi đã đi rất rời rạc, không còn cơ may gì gặp nhau nữa. Với ý nghĩ đó quay cuồng trong đầu, tôi sốt ruột và càng cố đạp nhanh hơn.






Chừng một tiếng sau chúng tôi đi thêm được thêm khoảng hai mươi cây số nữa. Trời đã bắt đầu nắng gay gắt, chiếc áo tôi đã ướt đẫm mồ hôi. Chiếc khăn quấn trên đầu làm tôi ngứa ngáy khó chịu, cổ tôi đã khô và tôi khát nước vô cùng. Bao nhiêu nước trong người tôi đã biến thành mồ hôi rồi hay sao đó, tôi cũng chẳng hiểu. Nhưng tôi cứ cắm cổ đạp. giờ đó tôi chẳng buồn nói chuyện với Lon, tôi chỉ còn một ý nghĩ trong đầu “làm sao đuổi cho bằng được xe chở cháu bé”. Hai bên con đường nhà cửa đã thưa thớt, chỉ còn những đồng lúa bỏ hoang, đất khô rạn nứt thành những rãnh chằng chịt như một tổ ong vĩ đại. Bên lề đường lâu lâu lại thấy một chiếc cột đèn gẫy đôi, những sợi giây điện rơi xuống mât đất lòng ngòng. Nhiều trụ đèn cao không còn những ống bằng xứ màu trắng, giây điện chằng chịt trên không trung. Tôi nghĩ đây là kết quả của những hoạt động phá hoại của những lực lượng chống đối chính quyền Nam Vang.






Hình ảnh đó làm tôi liên tuởng đến những cột đèn trên con đường Saigon-Sadec vào những năm sáu mươi sáu, sáu mươi bẩy, những cột điện cũng bị Việt cộng đặt mìn phá đổ hay những đường giây điện bị cắt đứt. Đó chỉ là hình thức phá rối để chúng minh sự có mặt của mình. Sau


này là những hoạt động phá hoại như làm xập cầu, đạt mìn trên trục lộ giao thông để đánh úp những đoàn quân xa hay đắp mô chặn đường giao thông và cướp bóc, khủng bố.


Tôi còn nhớ những ngày đi dạy ở miền Tây, không lần nào ở Saigon xuống mà xe đò tôi đi không bị chặn lại hàng giờ, những xe đò nối đuôi nhau dài cả cây số chờ dân vệ trên đồn đến phá mô, mở lại giao thông. Sớm quá, dân vệ không dám ra khỏi đồn sợ bị phục kích, chờ địa phương quân trên quận xuống và xe đò từng hàng dài hai bên mô đều nằm chờ. Những con buôn trên xe đò sốt ruột vì hàng đến chợ trễ sẽ không được giá hoặc sẽ bị ứ đọng, bắt đầu chửi rủa phe quốc gia là không chịu đi phá mô mà không ai chửi bọn việt cộng đặt mô vì sợ bị trả thù. Những câu chữi đổng, nguyền rủa của những mụ lái buôn, miệng vừa nhai trầu, vừa nhổ phẹt xuống sàn xe, vừa la hét inh tai nhiều khi làm tôi nhức đầu. Tôi không ưa những kẻ ăn nói sổ sàng đó vì họ đã không công bình phán xét, chỉ vì quyền lợi ích kỷ mà phê phán một bên. Chính vì vậy mà miền Nam sau này rơi vào tay cộng sản, và khi đó thì những người thuộc loại đó mới trắng mắt ra.






Những con mô đó đươc làm bằng đất lấy từ ruộng đắp lên trên một trái mìn, hoặc nhiều khi chỉ sơ sài gồm có vài nhánh cây hay mấy thanh gổ trên đó có treo dăm ba trái lựu đạn. Nhiều anh tài xế ngổ ngáo chán cảnh chờ đợi và bực tức vì khách đi xe cứ khích họ bèn bắt hành khách xuống hết rồi lái đại xe đi qua mô đất cao khoảng hai mươi phân đắp ngang qua con lộ, trong tiếng reo hò của đồng bào. Khi một xe đi qua yên lành, hành khách lại vui vẻ lên xe và chiếc xe phóng nhanh đi, những xe sau cũng bắt chước đi theo, lắm khi chẳng sao hết nhưng đôi khi cũng đè lên mìn làm nổ tung chiếc xe, hoặc làm cho hàng chục đồng bào đứng gần đó bị chết banh xác hay bị thương. Thật là một trò chơi nguy hiểm làm cho tôi bây giờ nhớ đến cái trò chơi nạp một viên đạn vào súng rồi thay phiên nhau soay vòng nạp đạn trước khi đưa lên đầu bóp cò mà tây phương họ gọi là ru lét rút sơ (roulette russe).






Khoảng chín giờ chúng tôi qua một thị trấn nhỏ, nghỉ chân tại đó và ăn sáng. Lon và tôi mỗi người ăn một tô hủ tiếu lớn. Vì khát nước, tôi đã uống bốn năm ly nước trà. Ăn xong, chúng tôi còn ngồi nghỉ cả tiếng đồng hồ vì Lon đang ngóng đợi những người kia trong nhóm, trong khi tôi thì sốt ruột muốn đi liền để đi kiếm cháu bé. Càng để lâu cháu càng đi xa, làm sao đuổi kịp được nửa. Sau cùng Lon đành quyết định đi. Anh trả tiền ăn, mua thêm một gói thuốc hút, rồi lững thững đi vào tiệm tạp hóa bên cạnh. Tôi thấy anh lựa hai cái mũ, đội thử một cái lên đầu, gật gù ra vẻ vừa ý, rồi anh quấn chiếc khăn choàng cổ quanh mũ và đội lên đầu. Anh đem chiếc nón kia ra cho tôi thử rồi bảo tôi quấn chiếc khăn của tôi quanh mũ như anh đã làm, trong khi anh trở vào trả tiền. Khi Lon trở ra tôi vẫn loay hoay quấn chiếc khăn mà không xong. Thấy vậy anh bèn làm giùm. Tôi đội chiếc nón lên đầu rồi lên xe đạp đi. Lon chạy theo tôi một quãng rồi mới nhẩy lên ngồi phía sau.


Trời nóng gay gắt, nóng khủng khiếp hơn cái nắng Saigon gấp bội phần. Ánh nắng như muốn ăn vào da vào thịt, làm cho mặt và đôi bàn tay tôi rát vì bỏng như thể tôi đã phơi nắng nơi bờ biển cả mấy ngày rồi. Tôi đã quen với cái nắng giữa trưa Saigon bao lâu nay rồi, chưa bao giờ tôi lại cảm thấy khát nước như lúc này. Tôi vừa uống cả lít nước thế mà đạp xe chưa đầy nửa tiếng, cổ tôi đả lại rát, họng tôi đã lại bỏng, tôi thèm uống nước kinh khủng nhưng đào đâu ra


nước bây giờ?






Càng ngày con đường càng đi vào những vùng hoang vắng không có nhà cửa hai bên. Đạp xe cả nửa tiếng đồng hồ mà chẳng thấy làng mạc hay dân cư, chỉ thấy những cánh đồng đất đen với cây cỏ khô cháy, mặt đất vẫn nứt nẻ như thế, bát ngát hai bên con lộ, nhìn tít xa vào phía trong đến tận chân trời vẫn chỉ thế đó, đất đen khô cằn, chẳng có cây cối xanh tươi hay nhà cửa ruộng vườn, chẳng thấy người ở hay con trâu cầy. Vùng đất này, vùng đất cận biên giới hay sao đó, có thể là vì thiếu an ninh hay vì một lý do nào đó không thấy dân cư, không thấy vết tích của sinh hoạt bình thường. Dân Kămpuchia đang bị đói kém vậy mà sao đất ruộng như vậy lại bỏ hoang phí? Hay tại không có nước để mà cầy cấy? Có lẽ đúng vì vậy. Sau đó, đi thêm vài chục cây số nữa, đi qua những cây cầu nhìn xuống lòng sông thấy chỉ có một con nước nhỏ chảy lờ đờ, tôi mới biết rằng vào cái cuối mùa hè nóng bỏng này, sông còn phải cạn thì làm sao mà có nước vào ruộng để mà cầy cấy canh tác cho được? Cơn khát nước làm cho tôi càng lúc


càng không chịu nổi nữa. Tôi nghĩ lúc này có ít kẹo chanh mà ngậm, hay cục đường hay quả xí muội, chắc đỡ lắm.






Tôi nhớ lại lần đi trốn kỳ trước, chúng tôi đã chuẩn bị chu đáo biết là chừng nào. Đường trắng hàng chục kí lô đã được nhà tôi mua về, vắt chanh vào rồi đem phơi khô bỏ vào lon ghi gô (guigoz) mang theo. Nhớ lại hồi ấy chỉ vắt chanh mà cũng mỏi cả tay. Đường được phơi trong nồi, trong chậu nhựa, trên khay, trên sàng gạo. Cả chiếc sân thượng nhà tôi chỉ thấy đường chanh là đường chanh. Nhà tôi đã ghĩ rằng đi biển lúc thiếu nước phải có đường chanh ngậm cho vừa đỡ khát vừa thêm sinh lực. Nàng đã nghe kể lại những chuyến vượt biển gian nan của kẻ khác, những chuyến đi bất hạnh, máy ghe hư, con tàu cứ lênh đênh trên biển khơi hết tuần này đến tuần khác, xung quanh chỉ nước là nước nhưng chẳng sao có được một ly mà uống cho đã cơn khát hoành hành vì nước dự trữ còn lại chỉ đủ để chia từng muổng một cho từng người. Chưa bao giờ cái thứ tầm thường là nước lã đó lại có giá hơn lúc ấy. Để rồi đến lúc hết nước phải đêm đêm nằm ngửa mặt lên trời mà đón nhận những hạt sương cho thấm lưỡi, thấm môi.


Tôi chưa phải trải qua cái cảnh ấy. Chúng tôi chẳng có cái kinh nghiệm ghê gớm đó vì chuyến ra đi của chúng tôi đã bể gánh nửa đường và định mệnh đã đưa chúng tôi vào nhà tù cộng sản. Nhiều người ở tù ra, nhất là các bà các cô, lại còn bình luận: "Ấy thế mà còn may. Nếu máy hỏng ở ngoài khơi, con tầu lênh đênh trôi dạt không biết đến đâu, hết cả lương thực lẫn nước uống thì chết hết cả đám. Vào tù nhưng còn sống sót!". Tôi chẳng cho là may mà cũng chẳng thấy là rủi. Tôi chỉ thấy đó là cái bất hạnh đến với gia đình mình, cái kinh nghiệm đau thương không phải chỉ cho riêng tôi mà còn cho cả vợ tôi và các con tôi nữa.






Chỉ một cơn khát làm cho tôi nhớ đến hình ảnh quá khứ với bao nhiêu ý niệm trừu tượng như sống chết, định mệnh, sự khốn khổ, sự bất hạnh. Chỉ một cơn khát làm cho tôi liên tưởng đến những lon ghi gô chứa đầy đường cát trắng, liên tưởng đến cái vị vừa ngọt ngọt vừa chua chua của nó, liên tưởng đến những rổ chanh đầy tôi và vợ tôi đã ngồi nào cắt, nào nặn mỏi cả tay. Và còn bao nhiêu hình ảnh khác gợi ra liên kết với nhau như một chuổi dài bất tận. Hình ảnh chiếc tầu mười bẩy thước chắc chắn, mới làm lại, gổ còn nhiều phần chưa sơn phết, những sợi giây cáp còn mới tinh treo trên trần ca bin nơi chúng tôi dồn đống lại. Chiếc tầu có cái vỏ tốt như thế, nhưng máy thì lại tồi tệ, máy nói nghe thì ngon lắm, sáu lốc, ai nghe mà chẳng ham. Đã mười bẩy thước, máy sáu lốc, lại chỉ chở năm bẩy chục người, chúng tôi đã nướng hết cả hy vọng vào chuyến đi ấy. Phải, nướng hy vọng, vì sau chuyến đi thất bại lần đó chúng tôi chẳng còn chút hy vọng nào còn lại nữa. Bao nhiêu tiền tận lực đổ vào đánh một canh bạc một ăn, một thua. Và thua rồi thì xong đời luôn, không phải chỉ cho riêng tôi và vợ tôi mà cả cho những cháu bé. Nướng hy vọng ra đi, chúng tôi đã đốt luôn cả tương lai các cháu. Định mệnh! lại định mệnh. Số mình không đi được, số mình phải mất hết của cải, nhà cửa phải bị tịch thu, phải vào tù, ra tù không còn hộ khẩu, không còn giấy tờ tùy thân, phải long đong khổ sở vì gặp trăm ngàn khó khăn do chính quyền địa phương gây ra. Không có hộ khẩu thì ở đâu? Đi kinh tế mới. Đâu có dễ thế? Người ta đi kinh tế mới cũng phải có tiền có bạc, có đồ đạc quần áo này kia. Chúng tôi đây còn gì? Vả lại, bao nhiêu người đi kinh tế mới sau một thời gian rồi lại phải lục đục kéo trở về Saigon sống tạm bợ, kẻ thì nơi nhà bà con họ hàng, kẻ thì đầu đường só chợ.






Kinh tế mới, một chương trình trên mặt lý thuyết thì hay, thì đẹp nhưng trên thực tế thì khốn nạn, vô trách nhiệm và vì vậy mà hỏng. Vào những năm bẩy bẩy, bẩy tám với những cuộc tổng tấn công của đảng, chính phủ và "nhân dân" vào giai cấp bóc lột, giai cấp tư sản ở miền Nam, các đợt đánh tư sản mại bản, kiểm kê tài sản của các nhà giàu không chỉ nhằm mục đích truất hữu những thành phần có nhiều của cải mà còn có mục đích loại trừ những yếu tố, những mầm mống chống đối đảng và nhà nước. Đó chỉ là mới nói đến hai nguyên nhân kinh tế và chính trị mà thôi. Đảng thì có cái lợi chính trị, đem bỏ tù những tên tư sản gộc, cướp tài sản của họ để đem xung công. Nhà nước thì có cái lợi là loại trừ được những địch thủ lợi hại về mặt kinh tế. Có ăn cướp như vậy mới có đồ mà dùng, mà tạm thời tồn tại, đồng thời khử được những tên tư


bản ra khỏi lãnh vực buôn bán làm ăn, nắm được độc quyền kinh doanh, tha hồ tung hoành, vì nay thị trường tư không còn nữa, việc kiểm soát nhân dân dễ dàng hơn.


Hàng trăm trăm ngàn tấn hàng đã từ tay tư nhân chuyển sang tay nhà nước để được "quản lý". Dụng cụ, máy móc, các đồ trang bị nhẹ những bộ phận thay thế đã được nhà nước tịch thu để đem ra dùng dần vì "nước ta còn nghèo không có ngoại tệ để mà nhập khẩu hàng hóa". Theo những lời tuyên bố của những nhà "kinh tế" miền Nam thì số hàng hóa, nguyên liệu, máy móc và các bộ phận thay thế tồn trữ tại miền Nam còn đủ sử dụng trong vòng năm năm. Như vậy bọn việt cộng có thể ăn no ngủ yên trong vòng những năm đầu, khỏi lo lắng gì.


Và quả thật cho đến cuối những năm bẩy mươi, các nhà máy, các cơ sở sản xuất vẫn còn tạm hoạt động được tuy không phải ở một mức độ cao, tuy không phát triển được nhưng vẫn còn cầm cự. Chỉ từ những năm tám mươi trở đi nên kinh tế mới thấy xa xút thảm hại. Những nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất dần dần phải ngưng hoạt động vì không có nguyên liệu, nhiên liệu hoặc vì các hệ thống máy móc bị hư hỏng mà không có các bộ phận thay thế hay sửa chữa.


Nay thì nhiều nhà máy nhỏ phải đóng cửa, những cơ sở lớn thì làm việc đôi ba ngày một tuần, công nhân cho nghỉ ở nhà mà đảng và chính phủ vẫn "ưu ái" trả cho một phần lương. Cả lương đã chết đói, không biết một phần lương thì sẽ ra sao. Nhưng cuối cùng thì vẫn chẳng ra sao vì dân Việt vốn có tài chịu đựng, có tài xoay sở và nhất là có tài nhịn. Nhịn ăn, nhịn mặc, nhịn chơi, chỉ có điều là họ không thể nhịn khổ sở.






Bao nhiêu gia đình tư sản bị phần thì bỏ tù, phần thì đưa đi đầy ải ở những vùng kinh tế mới. Nguyên tắc thì tất cả những thành phần ở Saigon sống mà không sản xuất đều "được" đưa đến những vùng rừng rú, hoang vu để sản xuất. Đưa họ đến đó, mục đích đầu là để cho họ khai phá, rồi sau đó canh tác những vùng đất mà đảng và nhà nước cho rằng rất trù phú, rất phì nhiêu mà vì lý do này, lý do nọ chưa được khai thác. Nước ta giàu có, dân ta anh hùng, đế quốc chúng ta còn thằng thì huống hồ, việc gì chúng ta chẳng làm được. Phá rừng, đốn cây làm nhà, đào kinh đưa nước đến những vùng khô cằn, biến đất hoang thành nơi canh tác, biến rừng rú thành những vùng phì nhiêu, rửa đất phèn để làm ruộng lúa, tất cả chúng ta đều có thể làm được. Theo chủ nghĩa Mác và Lê thì con người thông minh, nhất là con người Việt, bằng nhận thức và lao động có thể thắng được tất cả, kể cả thiên nhiên. Làm chủ đất nước rồi, vì nay ta đã đánh cho "Mỹ cút, ngụy nhào", làm chủ xã hội cũng rồi, vì nay xã hội ta không còn giai cấp, giai cấp tư sản đã bị loại trừ, nhân dân đã có được một xã hội mới trong đó không có cảnh người bóc lột người nữa, ai nấy đều làm chủ "tập thể", của cải vật chất, làm chủ tập thể cả xã hội.


Vậy chỉ còn vấn đề thắng thiên nhiên, làm chủ "tập thể" thiên nhiên. Do vậy mà nhân dân ta phải khắc phục khó khăn, làm chủ mọi tấc đất, hăng hái tham gia sản xuất. Và đi khai phá những vùng đất hoang khô cằn là sản xuất. Sản xuất là nhiệm vụ chung, là một vinh dự, nhất là cho những kẻ từ xưa tới giờ chỉ quen ngồi đếm tiền chứ không đếm sỏi đá. Hãy cho họ cái vinh dự đi khai phá những vùng kinh tế mới, hãy cho họ hiểu rằng "lao động là vinh quang", "có làm mới có ăn". Nên đảng và nhà nước đã cho xe, đêm đêm khuya khoắt vào những giờ mà ai nấy đều yên giấc ngủ và mộng mơ đến thiên đàng, đến đưa họ tới những vùng đất mà đảng và nhà nước đã ưu ái dành cho họ. Giữa đêm đen như mực, họ được mời ra đi mà không cần mang theo gì cả vì trên đó đã có đủ nhà cửa đồ đạc cần thiết, dụng cụ sản xuất.






Và họ đã ra đi đến những vùng đất ấy để thấy, nếu may mắn lắm, một căn chòi với ba vách bằng rơm cỏ thay vì bốn, vài ba cái cuốc, cái xẻng để làm phương tiện sản xuất. Họ xuống xe, được dẫn đến "căn nhà" của mình, được cho biết đến đâu là vùng mình "trách nhiệm" lao động sản xuất. Thế rồi đứng đó mà nhìn lãnh thổ của mình, mà suy nghĩ đến cái thân phận con người. Để sau đó, vào những ngày sau đó, nước mắt nhiều hơn là mồ hôi đổ xuống, xuống mảnh đất của quê hương mà mình nay ghét thậm tệ. Để rồi tìm đường thoát thân, thoát thân bằng cách đi tìm cái chết thật sự hay thoát thân bằng cách đi tìm cuộc sống mới, thực sự mới, nơi những vùng đất hứa hẹn xa xôi, bên kia bức màn sắt. Nhưng đâu có phải dễ đi hoặc dễ chết. Bao nhiêu kẻ có đủ can đảm để đi tìm cái chết? Và bao nhiêu kẻ may mắn trốn đi được khỏi đất nước? Đối với những ai còn phải ở lại thì quả thật cuộc sống họ đã được "biến đổi",


quả thật họ đã có được một sự "đổi đời". Mới hôm qua, hôm kia chỉ cần chìa ra tờ giấy bạc là có được nào gạo, nào cơm, nào thịt, nào rau. Nay thì đưa đôi bàn tay ra mà cầm cuốc, bàn tay quen đếm tiền ấy, nay cầm xẻng, cầm leng, nay cầm dao, cầm mã tấu, đi đào đất trồng cây, đào mương dẫn nước đến, phá rừng lấy gổ làm nhà hay lấy củi về đun, đào giếng để mà có nước uống. Sao thấy khó có được hột gạo, củ khoai lang hay củ mì đến thế! Mảnh đất này từ đời cha ông ta đến nay đã khi nào biết đến một cây lúa hay một cây khoai bao giờ đâu? Và bây giờ nó cũng chẳng muốn cho con người những hạt gạo hay củ khoai vì nó không có được cái khả năng đó.






Đối với cộng sản thì họ chỉ là những phương tiện, chẳng bao giờ họ là những con người cả. Họ chỉ là những cái máy, những dụng cụ để đảng và nhà nước sử dụng vào những mục tiêu nhất định. Đưa họ đến những vùng kinh tế mới, chẳng phải vì muốn cho họ có được một cuộc sống mới nơi đó, chẳng phải vì muốn cho họ có được một cuộc đời, một chỗ đứng trong xã hội mới. Đưa họ đến đấy không ngoài mục đích để loại trừ họ khỏi xã hội và đồng thời lợi dụng được sức lao động của họ. Khi đảng và nhà nước chưa có được các phương tiện khoa học để khai thác những vùng đất này thì họ sẽ là những cái máy, những con trâu làm cái nhiệm vụ "cao cả" là hy sinh cho tương lai, không phải tương lai của họ và các con cái họ, vì họ là những thành phần bỏ đi, mà là tương lai của đảng và nhà nước, tương lai của giai cấp thống trị, của tầng lớp đang hưởng, đang bắt đầu nhìn thấy hạnh phúc cho riêng mình.






Nhưng rồi cũng chẳng có cái gì buộc họ phải gắn liền với mảnh đất đó được cả. Khi mà mồ hôi đổ xuống đấy để đổi lại không được bát cơm, miếng rau hay củ khoai thì bản năng sinh tồn của con người thúc đẩy họ phải làm một cái gì. Họ không thẽ ngồi đó mà chịu chết. Bác và đảng cũng chẳng buộc được họ phải ở lại. Một số sẽ về quê, lên tỉnh làm ăn, những kẻ không có quê thì trở về Saigon tìm cách sinh sống tạm bợ. Vả lại khi mà "có tiền mua cộng sản cũng được" thì chỉ cần hối lộ. Nếu trả đúng giá thì nhà tịch thu cũng được "trả" lại, cũng được cấp lại hộ khẩu, được phép làm ăn trở lại. Vả cũng nhờ cán bộ, công an thối nát nên dân "ngụy" mới còn cơ sống, mới còn lối thoát. Nếu quả thật nếu cán bộ công an lại "đạo đức cách mạng", lại nghe đúng lời Bác Hồ dạy "chí công vô tư", nếu họ lại là "đầy tớ của nhân dân" thì dân ngụy chỉ có mà chết không kịp ngáp.














Tôi nhìn con đường đất đỏ trải đá, lồi lõm, lờ mờ chạy xa tít đến đâu đâu. Trời nắng càng gay gắt hơn khi càng gần trưa. Luôn miệng tôi hỏi Lon, "đi được bao nhiêu cây số rồi?". Lon trả lời ba mươi cây, bốn mươi cây. Cơn khát vẫn hoành hành, cổ vẫn khô ráo, mà áo vẫn ướt đẫm mồ hôi. Tôi lấy làm lạ tại sao Lon không khát như tôi. Giờ này đến giờ kia trôi qua, suốt trên quãng đường dài kể từ khi rời khỏi quận gì đó mà tôi chẳng biết tên, nơi chúng tôi ghé ăn sáng, tôi không còn thấy một quận lỵ nào nữa. Những đoàn xe đạp của dân buôn cũng thấy thưa thớt dần. Không hiểu họ đã biến đâu mất. Hoặc giả họ là dân chuyên nghiệp, đạp xe khoẻ hơn tôi nên đã tiến xa phía trước chúng tôi rồi. Lâu lâu một chiếc Honda đam (dame) chở một người ngồi phía sau chạy vọt qua mặt chúng tôi rồi chỉ trong giây lát là đi mất dạng. Xe hơi thì không thấy chạy bao nhiêu trên quãng đường này. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc xe díp chạy qua, trên xe là những tên lính bộ đội Việt Nam trở lên tiền tuyến hay trở về Bát Tam Băng. Và mỗi khi có một chiếc xe chạy qua như vậy là cả một quãng đường dài hàng trăm mét bụi mù, bụi đất đỏ cuồn cuộn bay lên từ xa báo hiệu xe đến, cứ thế cuốn dài theo chiếc xe cho đến khi qua mặt chúng tôi và mất hút về phía sau.


Chúng tôi đi như vậy đến khoảng mười giờ sáng thì đến một quận lỵ nhỏ. Hai bên đường nhà mọc san sát báo hiệu chúng tôi sắp vào đến chợ. Chợ vắng hoe có thể vì lúc đó đã xế trưa. Ở các nơi xa xôi hẻo lánh như nơi đây, dân làng họp chợ rất sớm và tan cũng sớm. Chỉ còn lèo tèo vài hàng bán tạp hóa còn mở cửa và vài quán nước. Chúng tôi đạp qua những quán nước mà không ghé vào, có thể vì Lon sợ bị để ý. Vài chiếc Dê Em Xê (GMC) đậu dọc theo đường lộ chính và tôi thấy lờ mờ bóng dáng nhiều người lính đi qua lại nơi đây. Tôi cũng không nhận diện được họ là Việt Nam hay Miên vì không mang kính. Đi gần hết quận, sắp sửa ra khỏi khu chợ, gần đến một cây cầu bắt ngang qua một con sông đã cạn, Lon vổ vai tôi bảo ngừng. Dưới


những bóng cây lớn có một quán nước nhỏ chỉ kê có một bàn và một ghế dài, chẳng thấy bóng dáng ai uống nước cả. Chúng tôi ghé vào nơi đó, tôi dựng chiếc xe đạp, lòng nhẹ nhõm. Lon nhìn tôi cười và nói một tràng tiếng Miên với cô hàng nước. Ngồi vào bàn tôi bỏ chiếc mũ xuống ghế bên cạnh chỗ mình ngồi, chờ đợi như đứa bé chờ được cốc kem hay ly chè lúc được mẹ cho đi chơi ghé vào quán nước. Lon hiểu ý tôi nên kêu ba ly sương sáo, hai cho tôi và một cho hắn. Nhìn nước đá màu gạch cua mà tôi thấy ghê ghê, da nổi gai ốc. Nhưng có lẽ trong đời tôi chưa lúc nào tôi thấy ly sương sáo lại ngon như lúc đó. Trời nóng như lửa bỏng mà lại được ăn ly chè lạnh thật là tuyệt vời, nhất là khi đang bị cơn khát hoành hành dữ dội. Chúng tôi ngồi dừng chân nơi đấy khoảng hai mươi phút. Ăn xong ba ly chè, chúng tôi còn ngồi ung dung hút thuốc. Tôi thì quá mệt sau khi đạp hàng mấy chục cây số đến được nơi đây. Lon thì trầm ngâm như đang suy nghĩ đến một điều gì. Một lát sau, mồ hôi lại vã ra trên mặt, trên cổ, sau lưng. Tôi đưa tay lên trán vuốt những giọt mồ hôi muốn đổ xuống mắt. Cơ thể đang bị mất nước, uống vào, những tuyến mồ hôi được thể làm việc dữ. Một lúc sau tôi lại thấy khát. Tôi bảo Lon kêu nước cho tôi uống. Tôi muốn uống nước lạnh cho đã khát chứ sương sáo ngọt không đáp ứng được nhu cầu của tôi lúc đó. Cô hàng bán nước nghe tôi nói tiếng pháp chắc cũng ngạc nhiên. Tôi cầm ly nước đục ngầu đưa lên miệng làm một hơi. Nước này lấy ở sông lên, tôi đoán chừng cũng chẳng đun nấu gì cả. Nhưng lúc này không phải là lúc đòi hỏi. Vả lại dân Miên họ uống nước như thế đó, chẳng cần lọc hay đun gì hết trọi. Họ uống được thì mình cũng uống được, chết chóc gì mà sợ. Sau này đi rừng tôi còn phải uống thứ nước tù thối tanh vì sinh vật chết nơi đó. Vậy mà cũng chẳng hề hấn gì.






Khi lấy xe, trở lên con lộ để tiếp tục ra đi, Lon bảo tôi "chỉ còn hai mươi lăm cây số nữa là đến Xi xô phon. Khi vào Xi xô phon sẽ phải qua vài trạm gác rất nguy hiểm". Tôi lo lắng hỏi lại "vậy phải làm sao?". Anh chỉ lập đi lập lại: "nguy hiểm lắm, nguy hiểm lắm". Thì ra là vậy. Anh đã trầm ngâm suy nghĩ lúc nãy là vì thế! Tôi leo lên yên chuẩn bị đạp, Lon không chịu ngồi lên ngay mà bảo tôi đạp tới, anh chạy theo sau vịn vào xe rồi chờ khi có đà mới nhảy lên. Đó là lối đèo xe bên Cao Miên. Khi ở Bát Tam Băng tôi đã nhiều lần thấy người ta làm như thế, đó là thói quen của họ. Đạp được một chặng, Lon bổng bảo tôi dừng lại. Tôi chưa hiểu ra sao thì Lon lững thững đi xuống một bụi rậm gần lộ đứng đái. Tôi cũng muốn tiểu nên cũng dựng xe xuống theo.






Khi trở lên thì Lon leo lên yên phía trước và bảo tôi ngồi sau. Chắc anh thương hại tôi và sợ tôi quá mệt. Anh cũng khoẻ, đạp xe phom phom, còn nhanh hơn cả tôi nữa vì lúc này tôi đã đuối sức. Ngồi sau poọc ba ga hai chân thòng xuống đất không có chỗ để tựa nên chỉ mươi phút sau là tôi thấy vừa tê vừa mỏi. Lon chân ngắn hơn tôi nhiều nên không phải co lên, còn tôi thì phải co chân nên lại càng chóng mỏi. Tôi tìm chỗ tựa chân, mấy lần để lên nơi hai con ốc vặn đùm xe vào sườn, nhưng cứ mỗi lần xe nhẩy lên nhẩy xuống là chân tôi lại tuột khỏi nơi tựa. Vả lại đít thì tự nhiên cứ chạy về phía sau, lát lát lại phải kéo lê về phía trước. Thật là buồn cười cái cảnh ngồi xe đạp vượt biên.


Cho đến bây giờ tôi vẫn còn hình dung được cái hình ảnh ấy, một hình ảnh để đời vì nó nói lên những nổi gian nan của mình trên con đường chạy trốn. Thấy ngồi phía sau còn khó chịu hơn là đạp xe nên nhiều lần tôi bảo Lon để tôi đạp mà anh không chịu. Chân tôi thì mỏi rời, gần muốn như chết cứng vì tê. Hai chiếc dép nhật nhiều lần muốn rớt khỏi hai bàn chân mà tôi có cảm giác như chẳng hay biết. Sau cùng tôi sợ mất dép nên đành lấy tay cầm cho chắc ăn. Thật là khổ sở vô cùng. Lúc ngồi đạp mệt và khát nước, tôi đã mong được Lon thay mình, đến bây giờ ngồi phía sau tôi lại cảm thấy còn khổ hơn cả khi phải đạp nữa.






Thế rồi thời gian cũng trôi qua. Khoảng mười hai giờ thì chúng tôi đã đến gần Xi xô phon. Tôi nhớ khúc đường quẹo trái này mãi trong đời, cái nơi báo hiệu sắp đến thị trấn nguy hiểm đó. Khúc đường này lên dốc dữ và trái với khoảng đường từ trước đến giờ, tôi thấy xuất hiện nhiều bóng cây hai ven lộ, và cả phía xa, sâu bên trong đã có dân cư, có làng mạc, có sự sống. Những cánh đồng hoang nắng cháy cũng được thay thế bằng những ruộng lúa hay những đồng cỏ. Lâu lâu xa xa thấy xuất hiện bóng dáng một vài người dân quê đi lại.


Đi thêm khoảng nửa tiếng nữa thì Lon dừng lại ven đường, quay lại nói với tôi "Chúng ta vào trong đó ngồi nghỉ, chờ những người kia". Vừa nói hắn vừa chỉ tay vào một khu đất trống cách xa khoảng ba trăm mét khỏi con lộ, nơi có một bụi tre lớn và nhiều bóng cây mát. Tôi cảm thấy không gì sung sướng hơn vì hai chân tôi mỏi rời, tôi tưởng không còn thể nào chịu đựng nổi nữa. Tôi xuống xe đứng khom mình cả mấy phút đồng hồ mới hết tê chân. Tôi bước đi chuệnh choạng đến bên vệ đường, ngồi đại xuống những tảng đất đỏ lớn bằng cái thúng. Đường vẫn vắng hoe, không một bóng người qua lại. Trời nắng như đổ lửa. Cơn khát đã lại hoành hành tôi từ bao giờ và giờ đây tôi thấy khô cổ, rát họng. Vậy mà mồ hôi ở đâu vẫn cứ vã ra ướt đẫm chiếc sơ mi nylon nâu trên người tôi. Trên trán, sau gáy, nơi cổ, mồ hôi nhể nhại quyện vào bụi đất đỏ, tôi lấy chiếc khăn tay lau mặt và nhìn vào chiếc khăn thấy mà khiếp tởm. Khi thấy Lon đã biến vào con đường đất dẫn xuống chỗ bóng mát giữa cánh đồng, tôi vội vã đứng dạy đuổi theo. Con đường đất này cũng khá lớn, có những dấu bánh xe bò lăn và những bãi phân bò lớn chưa khô hẳn. Chắc là dân địa phương ra đồng làm việc từ sớm và giờ này đã rút trở về nhà. Lon dựng chiếc xe đạp ngay tại con đường đi, lững thững bước vào phía bóng mát ngồi nghỉ trên đám cỏ. Tôi hỏi anh sao không mang xe vào, anh trả lời: "Được rồi. Để đó không sao". Tôi hỏi lại "Còn xa không?" thì anh trả lời: "Đến rồi! năm cây số nữa. Nhìn dưới kia kìa. Đó Xi xô phon đó", tay anh chỉ xuống vùng thung lũng xanh tươi, xa mịt mờ. Tôi chẳng thấy gì cả vì có đeo kính đâu mà thấy? Hai cặp kính của tôi Lon đã bỏ trong chiếc túi áo dắc kết (jacket) nhà binh Mỹ anh đang mặc trên người. Tôi chẳng hiểu sao anh còn giữ được chiếc áo của sĩ quan Mỹ này? Mà trời thì nóng như phát điên, vậy mà anh mang được cái của nợ ấy trên người. Có một điều lạ là tôi thấy Lon không chảy nhiều mồ hôi như tôi và không thấy anh khát nước. Suốt dọc đường tôi đã kêu với anh "Uống nước, uống nước", anh chỉ nhe răng cười, chẳng trả lời. Dường như cơ thể anh đã quen với cái nắng như thiêu như đốt của mảnh đất Kămpuchia vùng ranh giới này. Nhìn nước da ngăm đen, một màu đen của gian khổ và chịu đựng, nhăn nheo, cằn cổi người ta có thể khẳng định được ai là dân Kămpuchia liền, không thể sai vào đâu.






Tôi đã lăn lộn dưới nắng gần một năm trời, cái nắng cũng gay gắt lắm của Saigon vào giữa mùa hạ, mà nước da cũng chỉ xạm nâu. Vậy mà ở Saigon, các bạn bè nhìn tôi ai cũng bảo đen như tôi đi K được. Việt cộng hay dùng ký hiệu thay vì địa danh, như K dùng để chỉ Kămpuchia, B để chỉ miền Nam. Kể từ vụ tổng tấn công Tết Mậu Thân năm sáu mươi tám, nhiều quân bắc Việt được gởi đi B, tức là đi vào miền Nam để chuẩn bị những trận đánh lớn mà những đoàn quân du kích ở địa phương không có khả năng thực hiện.


Vào ngày mười sáu tháng chạp năm bẩy bẩy, mười bốn sư đoàn được gởi sang K, tức sang Kămpuchia đề tổng tấn công các vị trí Khờ me đỏ nhưng không thắng lợi và đến ngày hai mươi hai tháng chạp năm sau, năm bẩy tám, thêm nhiều lực lượng Việt được đưa sang K để tấn công hai tỉnh Kơ ra ti ê (Kratie) và Com pông Cham (Kompong Cham) ở đông bắc Nam Vang và đã chiếm đóng được hai tỉnh đó. Chỉ vài tuần sau thì chính phủ Heng Samrin, do Việt Nam đỡ đầu, được thiết lập ở Nam Vang. Những ngày đó anh em đùa bảo tôi đi K, không phải để chiến đấu mà là để vuợt biên. Sau này quả thật tôi đi K, nên mới có cuốn hồi ký này.






Ngồi khoảng mười lăm phút tôi thấy Lon bổng hớt hãi đứng dậy, chạy ra một chỗ cao nhìn xuống con lộ, đứng đó tay cầm cái nón phất qua phất lại làm dấu hiệu. Tôi biết ngay là anh muốn báo cho những người kia trong nhóm biết nơi chúng tôi đang dừng chân. Vậy mà Lon tinh mắt thật! Anh rất kỹ lưỡng khi làm việc. Tuy ngồi nghỉ nhưng từ nãy đến giờ vẫn quan sát phía dưới kia để tìm bóng dáng đồng bọn. Khoảng năm bảy phút sau Kết chạy xe tới, chiếc xe Trung Quốc mới tinh hồi sáng nay bám đầy bụi đất đỏ của đường trường.


Nhìn cháu bé, tôi mừng muốn chảy nước mắt. Cháu từ sau xe nhảy xuống, bước đi loạng choạng. Chắc cháu cũng tê chân và ê đít như tôi. Tôi chạy lại nắm tay cháu và dìu cháu lại chỗ bóng mát rồi bảo cháu ngồi xuống đó. Tôi hỏi cháu có mệt không thì cháu gật đầu, tôi hỏi nhiều không, cháu trả lời "cũng nhiều". Nhìn vẻ mặt bơ phờ, nét mắt ngơ ngác mà tôi thật thương cháu quá! Tôi đành dổ dành an ủi cháu, bảo cháu gắng chịu khó thêm một đoạn nữa là sắp đến biên giới rồi, sang đến Thái Lan là khoẻ. Hai bố con sẽ sang Pháp hoặc đi Mỹ hoặc đi Úc, cháu sẽ đi học và sẽ khá. Nghe tôi nói cháu tỏ vẻ phấn khởi. Tôi hỏi cháu có khát nước không, đi đường có được uống nước không thì cháu trả lời “không khát lắm” vì đã uống nước lúc nãy


cũng tại nơi mà chúng tôi giải khát. Cháu kể rằng ngồi ở trong quán nước cháu nhìn thấy chúng tôi đi qua mà không dừng lại nên cũng hơi lo.






Hai cha con tôi ngồi một góc nói chuyện còn Lon và thằng em cột chèo ngồi một góc. Tôi nằm ngả lưng xuống đám cỏ nhìn trời nhìn mây. Cháu bé ngồi nghỉ một lát thấy khoẻ, đứng dạy bước lòng vòng xung quanh đó chơi. Lát sau tôi thấy Lon kêu một đứa bé gái Miên tay cầm dăm bảy ống tre trong đó đựng nước thốt nốt, ống tre to bằng bắp chuối dài năm sáu chục phân được cắt ngang một mắt, để lên lửa đốt cho đen hay sao đó, dùng để đựng cái thứ nước chua loét của cây thốt nốt. Mà cũng kỳ lạ, nước uống thì chua chua, vậy mà khi nấu thành đường thì sao ngọt lịm, thứ đường màu vàng trắng như sữa đặc.


Chúng tôi uống nước thốt nốt xong là lại lên đường. Lon đã tỏ vẻ sốt ruột vì chờ đã lâu mà không thấy những người còn lại trong nhóm đến nơi hẹn. Trời nắng chang chang, nắng ghê gớm. Càng đến gần vùng biên giới, cái nắng càng khủng khiếp, cái nắng như muốn bám vào da thịt, như muốn châm, muốn chích hàng ngàn lỗ nhỏ li ti lên mặt, lên cánh tay, lên tay. Chúng tôi đi chưa đầy nửa tiếng nữa thì đến gần Xi xô phon. Đường từ nơi đó trở đi đã khá hơn, đã tươi bóng mát và đã trải nhựa tuy có nhiêu ổ gà, con đường chạy vòng vèo nhiều lần như tưởng đã đến thị trấn nhỏ bé này rồi nhưng rồi lại chưa, con đường leo đồi, xuống đồi dăm ba lần rồi mới vào đến giữa quận.


Khoảng một cây số trước khi vào quận lỵ có một trạm kiểm soát lớn. Xe cộ ra vào đều phải ngừng lại cho lính xét và chờ lệnh mới được ra đi. Đó là nói xe hơi, chứ xe đạp thì khỏi, nhưng không được chở đôi.


Từ lúc lên xe trở lại, Lon đã để tôi đạp và anh ngồi phía sau, Tôi và Lon đi trước, tên dẫn đường kia và cháu bé theo sau. Khi đến cách trạm khoảng trăm mét, khi tôi còn chưa thấy gì thì Lon đã bổng nhiên nhẩy xuống, vừa nhẩy vừa nói: "Cứ đạp tới như thường. Đừng ngừng lại. Đừng sợ". Vậy là tôi hiểu sắp đến nơi canh gác và tôi sắp lại phải chịu một cơn hồi hộp. Nhưng kể từ khi rời cây cầu đầu tiên ngoài cửa thành Bát Tam Băng, từ lần lo âu hồi hộp đầu tiên ấy, tôi đã phải trải qua mấy chục trạm gác. Ba chục, bốn chục? Tôi chẳng đếm nhưng tôi biết là nhiều lắm. Riết rồi cũng quen đi, sự sợ hãi lúc đầu biến dần và sự nguy hiểm trở nên như không còn bao nhiêu vì mình đã bắt đầu coi thường nó.


Và chính vào cái lúc này, cái lúc mà mình coi thường, không còn đắn đo, không còn tính toán để đề phòng, thì là lúc nó vồ mình, nó đưa mình vào cái bẫy dăng sẵn trước bước mình đi mà mình không hay. Ta đã đi qua mặt hàng vài chục trạm gác, qua mặt hàng trăm tên lính mà không sao. Như vậy có gì đâu mà phải sợ, phải lo? Đó là cái lý luận đơn giản của kẻ đã lần lần mất đi sự cảnh tỉnh, mất đi ý thức đề phòng, ý thức luôn luôn sẵn sàng đối phó với mọi hoàn cảnh có thể bất chợt xảy đến với mình.


Nhưng nói là nói vậy thôi, lần này tôi cũng không hoàn toàn lơ là như thế và lúc nãy Lon đã cảnh cáo tôi từ trước. Vả lại bộ mặt của anh đã cho tôi hay rằng, đây không phải là một trạm gác như bao nhiêu trạm chúng tôi đã qua dễ dàng. Hàng dẫy xe vận tải và xe đò ngưng ở đó để được những tên lính cầm súng AK, B40, tay đeo băng đỏ leo lên lục soát hạch hỏi giấy tờ. Điều đó báo cho tôi hay rằng đây là một trạm kiểm soát đặc biệt mình phải dè dặt, mình phải chuẳn bị tinh thần. Nói là chuẩn bị tinh thần vậy thôi chứ tôi cũng chẳng biết phải chuẩn bị thế nào hay phải làm cái gì. Chuẩn bị bộ điệu câm điếc để lỡ có bị hỏi giấy? Chuẩn bị tinh thần để bị bắt? Bình tĩnh, phải bình tĩnh vì chỉ có bình tĩnh mới cứu được mình khỏi tất cả những trạng huống khó khăn nhất. Tôi tự nhủ "cứ đạp xe chầm chậm, đạp đều và qua trạm gác bình thản, không tỏ dấu hiệu gì là sợ sệt, không lấm la lấm lét nhìn phải nhìn trái, cứ thẳng đường mà đi thì sẽ thoát. Chẳng vì lý do gì mà lại phải đạp mau và cũng chẳng nên tỏ vẻ do dự khi phải qua nơi đó".


Và tôi đã may mắn qua được nơi đó. Những tên lính, hàng chục tên lính với bộ mặt hầm hầm dữ tợn còn đang mải kiểm soát những xe đò và nhất là những xe vận tải. Họ lục lọi những kiện hàng, la lớn hạch hỏi những con buôn, kêu gọi nhau rối rít. Chẳng ai để ý tới tên vượt biên giả dạng dân đi buôn này, chẳng ai có thì giờ để mà ngó ngàng đến tên Miên giả đang chậm rãi đạp chiếc xe đạp cũ rích, đằng sau xe có cột chiếc bao bố tổ mẹ. Như thế tôi đã lại một lần nữa


thoát, thoát bị bắt, bị tù đầy, thoát bị rơi vào cái cảnh học tập cải tạo của cộng sản, thoát khổ


cực, đói và buồn.


Qua được trạm kiểm soát này là hú hồn, là thở phào khoan khoái. Đang đạp chầm chậm, tự nhiên tôi đạp nhanh hơn như thể muốn mau thoát khỏi cái nơi nguy hiểm đó. Bản năng gì đã thúc tôi đạp nhanh hơn như thế? Dường như tôi có cảm giác của kẻ chạy trốn một sự rình rập, cảm giác như vẫn có những con mắt nhìn theo tôi nghi ngờ. Tôi vẫn còn lo sợ bị bắt lại, bị đuổi theo hay bị ai đó hai bên đường quan sát. Hẳn nhiên là điệu bộ tôi không thể bình thường, vẻ mặt tôi không thể không thoáng vẻ hớt hải. Tôi đã phải lẩm bẩm "bình tĩnh, cứ bình tĩnh, thoát khỏi chỗ nguy rồi. Không lý gì còn phải sợ!" nhưng tim tôi vẫn đập mạnh liên hồi. Tôi không biết lúc qua mặt những tên lính gác tôi có nhịn thở hay không mà lúc sau đó tôi thở dồn dập, hơi thở ngắn và nhanh, thở như một kẻ sắp chết đuối ngoi lên mặt nước táp lấy cố ít không khí cần thiết cho sự sinh tồn. Đầu tôi trăm ngàn những ý nghĩ vu vơ, mắt thì nhìn láo liên bên phải bên trái, gắng xem có bộ mặt khả nghi nào dòm ngó mình hay không, chân tôi vẫn còn đạp lấy cố. Và vì thế mà chỉ năm phút sau tôi đã cách xa trạm gác lúc nào mà không hay.






Lúc tôi hoàn hồn, nhận thức lại được thực tại thì tôi đã ở một con phố nhỏ với những hàng quán chạy dài hai bên đường báo hiệu cho tôi biết là tôi đã vào đến trong quận. Lúc đó tôi mới trở về với thực tế, mới ý thức được rằng tôi đã đi quá xa, cả cây số rồi và Lon còn đang đi bộ phía sau tôi. Tôi tính quay xe đi ngược trở lại đón anh, xong nghĩ lại lại thôi. Tôi chẳng nên lại gần cái khu vực nguy hiểm ấy làm gì nữa, cứ để cho Lon đi một quãng cũng chẳng sao. Vả lại đi trở lại đón đầu anh lại có thể bị nghi vì không có lý do gì tôi vừa đi qua nay lại quay đầu trở về.


Tôi bèn ngừng xe bên vệ đường, dựng xe và đứng chờ. Những người Miên bán hàng nhìn tôi với những cặp mắt soi mói. Không hiểu họ nhìn tôi như vậy vì tôi khả nghi hay bởi vì tôi nghĩ rằng họ nhìn tôi như vậy? Trong cái hoàn cảnh đó, trong tâm trạng của tôi vào lúc đó, ai cũng có thể là kẻ thù. Lúc nào tôi cũng có cái cảm giác bị rình mò, bị săn đuổi hay bị nghi ngờ. Tôi nhìn bất cứ ai cũng thấy như thể họ biết tôi là kẻ chạy trốn, kẻ vượt biên, là người Việt đội lốt dân Miên. Nhìn đâu tôi cũng thấy hiểm nguy và hiểm nguy.


Tôi đành cúi xuống giả vờ nhìn chiếc bánh đằng sau như thể đang gặp rắc rối, trục trặc gì. Tôi mó vào chiếc thắng đĩa, lắc đi lắc lại cái cần, giả vặn con ốc nhưng không được, lấy chân đạp vào bánh xe với vẻ mặt bực bội. Thời gian trôi qua chậm chạp và mãi tôi chẳng thấy bóng dáng Lon đâu hết. Ruột tôi sôi nóng như lửa. Tôi tự rủa mình ngu dại đã đi quá xa để cho bây giờ phải chờ. Tôi bực mình vì thằng cha Lon này làm gì mà mãi vẫn chưa thấy xuất hiện. Tay tôi đã lấm vết mỡ bò đen hoắc của chiếc xe đạp.


Tôi lấy điếu thuốc ra, châm lửa hút, đứng trầm ngâm nghĩ ngợi. Chờ mãi vẫn chẳng thấy anh xuất hiện và vì vẫn có cái cảm giác rằng bao nhiêu đôi mắt đang gắn vào phía sau lưng tôi nên tôi thấy thật khó chịu. Tôi chẳng dám nhìn ai. Vả lại có nhìn cũng chỉ thấy lờ mờ, chẳng thấy được rõ họ có quan sát mình hay không. Thật là vô lý. Chắc gì đâu ai đó nhìn tôi vào những giây phút đó? Tôi có gì đặc biệt, có tỏ vẻ gì bất thường đâu để mà lại bị nghi ngờ? Chẳng qua chỉ là lo xa. Nhưng tôi không thể tự gạt đi được cái cảm giác lo âu đó. Hút được nửa điếu thuốc, tôi lại ngồi xuống bên chiếc xe giả đò sửa tiếp. Lúc đấy mà có tên Miên nào lại gần hỏi tôi trục trặc thế nào là bỏ mẹ, giả câm nữa hay sao? Lại càng đáng nghi hơn. Không nói được đến một câu tiếng Miên mà lạc vào cái thế giới của xứ Kămpuchia này, lúc đó tôi mới thấy rằng chấp nhận ra đi bằng đường bộ có trăm ngàn cái hiểm nguy. Chỉ một chi tiết nhỏ, như đứng chờ tên dẫn đường ở đây, cũng có thể là nguyên cớ để bị bắt và đi nằm tù. Vậy mà lúc đi tôi đã nông cạn nghĩ rằng tất nhiên đi đường bộ phải ít nguy hiểm vì hai chân mình đứng trên đất liền, có chuyện gì mình chỉ việc chạy. Tôi không nghĩ rằng chạy đâu có dễ và chạy đâu khi mà mình ở trên đất lạ, đi đến đâu mình cũng bị lộ dễ dàng. Cái nguy hiểm của sự ra đi bằng đường bộ nó liên tục, nó gắn liền với mỗi bước chân mình đi, nó rình rập mình ở bất cứ nơi đâu mình đang ở, bất cứ lúc nào, ngày cũng như đêm. Nguy hiểm nó tiềm tàng bên mình, không lúc nào tách rời, cho đến khi mình đến được nơi an toàn. Đó là cái nguy hiểm của người lính ra mặt trận, lúc nào cũng có thể nhận một viên đạn ghim vào thân mình. Đối với tôi thì chẳng có đạn, ít ra vào lúc này, nhưng có sự hiểm tai bị chặn hỏi và bắt, lúc nào cũng phải lo sợ nhìn trước nhìn sau vì bất cứ ai xung quanh cũng có thể nhận ra mình là kẻ phạm pháp và tố cáo mình. Đi đường bộ là sống trong sự lo âu triền miên, sống suốt ngày đêm trong một trạng thái tinh thần


căng thẳng, gặp bất cứ ai cũng lo ngại, không biết được họ có thực tình giúp mình hay lại chỉ


tìm cách lừa đưa mình vào bẫy.






Tôi còn đang vặn đi vặn lại con ốc gắn trên cọng thép bắt từ chiếc thắng đĩa đến tay thắng, con ốc để điều chỉnh bố thắng cho ăn hơn, thì có người vổ vào vai tôi hỏi: "Cái gì vậy? Xe hư hả?" Tôi giật nẩy mình tưởng một tên Miên nào hỏi mình, sau nhận thức ra rằng câu hỏi được đạt bằng tiếng Pháp bồi, tôi mới tỉnh hồn và biết rằng Lon đã tới. Tôi hỏi Lon: "Mày đi bộ có mệt không mà để tao chờ lâu quá vậy?" Anh cười: "Mày đi xa quá! Nhưng như thế tốt! Thôi đi". Chúng tôi đi thêm khoảng mươi phút thì đến một ngã ba, bên tay trái là một con đường rầy cũ nay không còn được sử dụng, phía trước là con đường đi xuống chợ trời Xi xô phon, cái chợ nổi tiếng vùng biên giới.






Từ khi còn ở Nam Vang, tôi đã được nghe về cái chợ Xoay của quận lỵ Xi xô phôn này. Bao nhiêu người đã đến được chợ Xoay rồi lại phải về vì sợ, hoặc vì bị bỏ rơi, hoặc vì bị lộ mà còn may chưa bị bắt. Cũng đã biết bao nhiêu người dã bị bắt ở đây vì lớ ngớ như tôi, nói tiếng Miên thì không biết nói, đường lối thì không biết đi mà lại cả gan dám đến đây tìm đường vượt biên. Tôi đã hai lần đi qua cái chợ lừng danh này, lừng danh cả về mặt buôn lậu lẫn về mặt chặn bắt những kẻ đi vượt biên


Chợ trời Xoay (Xi xôphon) là nơi trao đổi hàng hóa mang từ đất Thái về lấy vàng, nguồn gốc xuất phát đủ thứ sản phẩm Thái có, Trung Quốc có và thậm chí cả các hàng xa xỉ phẩm của Nhật, Pháp, Mỹ, Anh... Nơi đây là giao điểm của những kẻ buôn lậu, người thì buôn từ Thái về đây bán, kẻ thì đến đây mua về Nam Vang hay Saigon. Ở giữa là giới trung gian, thâu hàng của người này bán cho người kia. Đại khái, có thể nói họ là những tay bán mối giống như ở các chợ Bình Tây hay Chợ Lớn Mới, chuyên thu mua của những bạn hàng từ miền Tây để bán lại cho những con buôn ở Saigon. Vải, dép cao su nhật bản nhưng làm ở bên đất Thái, radio, đồng hồ điện tử, thuốc lá, rượu, cho đến những hàng tiêu dùng như bột ngọt, đường, sữa, tiêu, bánh kẹo, thậm chí cả thuốc tây, tất cả những thứ đó đều được bày la liệt ở khu này. Ta có cảm tưởng như đây là một thứ cửa hàng pi ếch (PX) lộ thiên đối với thế giới xã hội chủ nghĩa, vì chỉ có ở đây mới có nhiều hàng xa xỉ và quý như vậy..


Chúng tôi không chạy thẳng qua con chợ lộ thiên này mà lại đi tới cái ngã ba mà tôi nhớ rõ từng chi tiết một, cái ngã ba đã ăn sâu vào ký ức tôi như một vết sẹo tiềm tàng in vào óc hay tâm can tôi. Lon bảo tôi ngừng lại tại chỗ chẻ đôi của con lộ, một nhánh đưa tới chợ và môt nhánh chạy theo đường rầy xe lửa mà sau này tôi được biết dẫn sang đất Thái. Ở khúc quanh đó có nhiều bóng cây mát và ngay dưới đó là một sạp bán phụ tùng xe đạp và một quán nước có bán thêm tạp hóa. Trên một chiếc bàn dài, các loại phụ tùng xe đạp còn mới nguyên được bầy la liệt, nào giò đĩa, nào pê đan, nào thắng, nào vè, nào vành xe, nào đùm, nào ghi đông, nào yên, nào pọoc ba ga, nào bi, nào căm. Nói tóm lại, đại khái nó cũng như những cửa tiệm nhỏ bán xe đạp tại Saigon sau sáu năm miền nam bị rơi vào tay cộng sản. Bên cạnh chiếc bàn là một chiếc ghế dài cũng không kém, nơi đây năm bẩy người đang ngồi chờ tới phiên mình để được sửa xe. Sát bên bàn là một tủ đồ nghề với đầy đủ những dụng cụ sửa xe như kìm búa, ê tô (étau), cưa sắt, kờ lê (clé), mỏ lét (clé à molette), đục chiã, dũa, … Hai ba người thợ Miên đang cặm cụi sửa xe cho khách. Khách là những con buôn chạy đường biên giới. Nhiều chiếc xe đạp nằm nghiêng ngửa dưới đất, cái thì lòi ruột cái thì đùm tanh banh ra, vẫn cái cảnh sửa xe đạp ở bất cứ nơi nào của chế độ xã hội chủ nghĩa.






Tôi nhớ lại những ngày tôi và đứa em trai cứ bốn năm giờ chiều, giờ tan sở, đem những thùng đồ nghề, bơm, chậu, và những bình xăng lên ngã tư Công Lý-Phan Thanh Giản ngồi sửa xe ở lề đường. Thấm thía sao là những ngày đó! Vừa sót sa, vừa thú vị lại thêm nhiều ý nghĩa cho cái cuộc đời trí thức bị ngã ngựa của tôi. Nhờ ơn cách mạng, tôi, một nhà giáo chân chính đã nếm thêm được nhiều mùi đời cay đắng, nhưng cũng đáng hãnh diện. Phải, tôi cảm thấy hãnh diện đã làm những những nghề cùng cực nhất của xã hội, hãnh diện vì thấy trong hoàn cảnh nào tôi cũng đã can đảm chấp nhận, can đảm tranh đấu để sống còn, can đảm tiến tới để bớt bất mãn, bớt buồn tủi, bớt thấy đau đớn cho cái thân phận của mình. Dấn thân vào cuộc sống


để quên đi những chua sót đắng cay, can đảm đương đầu để khỏi phải chối bỏ một thực tại mà mình không sao có thể chối bỏ được.


Sau ngày bọn cộng sản xâm chiếm miền nam, tôi đã làm thêm bao nhiêu nghề? Sửa xe đạp, đi bỏ mối ga, chạy xích lô, đi buôn gạo, bán chợ trời, đi Tiền Giang buôn thịt heo và đường, và bao nhiêu toan tính làn ăn này nọ nữa? Nhưng mỗi nghề tôi chỉ làm được vài ba tuần, vài ba tháng, chẳng nghề nào lâu bền. Lâu nhất là đạp xích lô, lâu nhì là sửa xe đạp, lâu ba là đi bỏ mối ga.






Đạp xích lô là một quãng đời đẹp của tôi, cái đẹp của nhịn nhục, của âm thầm khổ đau, cái đẹp của nhẫn nại và cố gắng vươn lên, cái đẹp của cam đảm và lòng kiêu hãnh. Thật buồn cười và mâu thuẫn. Ai lại kiêu hãnh làm cái nghề mạt rệp nhất của xã hội đó bao giờ? Thế mà tôi lại có cái cảm giác kiêu hãnh đó! Tôi đã hiên ngang ngồi đằng sau xe, đạp cho những khách cô khách bà vẻ mặt kênh kiệu ngồi phía trước xe tôi. Tôi đã không xấu hổ khi chỡ trên xe một lúc ba bốn gái mãi dâm, kẻ ngồi trên đệm, người ngồi trên ghi đông xe, vừa đi xe miệng vừa bô bô nói tục hay cười nhả, vừa khoa tay múa chân, chọc ghẹo lại những thanh niên đi đường. Về nói tục thì không ai ăn được những cô gái mãi dâm này và trơ trẽn thì cũng không ai trơ trẽn hơn được họ. Những thanh niên mất dạy nhất Saigon có gan đụng đến họ cũng chỉ nói được dăm ba câu rồi phải câm miệng vì nói không lại.


Nhưng như thế không phải họ chỉ có bộ mặt xấu xa mà thôi. Họ cũng có bộ mặt dễ thương, dịu hiền vốn dĩ của những người con gái Việt. Hay là tùy người thì tôi cũng chẳng biết. Những đêm tôi chở họ từ ngã ba Hồng Thập Tự - Bà Huyện Thanh Quan, hay góc Lê Văn Duyệt - Sương Nguyệt Ánh, hay sau vườn Tao Đàn trên đường Nguyển Du, hay dọc theo con đường Hùng Vương từ bùng binh ngã sáu Cộng Hoà cho đến Nhà Thờ ngã sáu chợ Lớn, gần Đại Học Y Khoa, hay từ đâu đâu nữa, tôi vẫn thấy nơi họ những cái dễ thương lạ lùng. Họ gọi tôi là anh và xưng em ngọt ngào, chẳng hạn. Họ hỏi thăm tôi vài ba câu về cuộc đời, nói với tôi dăm câu tâm tình làm tôi thấy ấm lòng, thấy có sự cảm thông, thấy cuộc đời chưa đến nỗi phài thất vọng, để mà còn chút gì bám víu vào, không chịu buông hai tay suôi. Nhiều khi một câu nói của họ thật đơn sơ nhưng lại gói ghém trong đó cả sự chua cay của một cuộc đời. Họ cũng triết lý như ai, họ là những nghệ sĩ cùng cực, cũng nói ra được nếu không phải là viết những lời thấm thía làm mủi lòng người nghe. Tôi thương họ vì họ cũng như tôi phải chịu những hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống đang chi phối tâm hồn họ.Tôi chắc họ cũng đã phải can đảm chấp nhận định mệnh như tôi đã chấp nhận và cũng đã, vào một lúc nào của cuộc đời, quyết định như tôi đã từng quyết định. Chúng tôi thông cảm nhau vì chúng tôi cùng khổ. Định mệnh chung đã gắn bó chúng tôi, hay nói cho đúng hơn, đã đưa chúng tôi đến gần nhau hơn, đến việc xóa đi những thành kiến và dị nghị. Đối với họ, tôi chỉ là một anh đạp xích lô và đối với tôi họ, cũng vẫn chỉ là những cô gái bán thân vì đó là danh từ mà xã hội đã gán cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi không nhìn nhau như xã hội đã nhìn chúng tôi.






Nhưng không phải con người tôi vốn dĩ như thế. Tôi đã qua kinh nghiệm, qua sự dấn thân nhận thức được thực thể và cảm giác đó. Ngày còn trẻ, khi tôi còn ở cái tuổi hai mươi, tuổi của sinh viên đại học, tôi cũng đã đi chơi bời. Khi ấy, tôi đã ôm họ vào lòng, đã sờ nắn, đã bóp, đã bông đùa với thân xác họ. Đó chỉ là nhu cầu của tuổi trẻ và chỉ là một sự trao đổi. Tôi đã thích họ có thể vì họ đẹp, họ khêu gợi, họ đã hấp dẫn người thanh niên ham chơi như tôi. Tôi có thể đã đến với họ vì thể xác, vì thân hình của họ. Tôi đã cười cười, nói nói, rỡn nghịch với họ, cũng anh anh em em ngọt ngào, nhưng không có sự cảm thông, sự tương kính, đến với họ vì ham muốn nhưng vẫn ghê ghê, vẫn đề phòng, vẫn có cái ý tưởng coi thường nếu không muốn nói là khinh khi. Chẳng qua đó là do định kiến của xã hội. Dù họ có đẹp, có dễ thương, có dịu hiền, có gì gì đi chăng nữa, thì họ cũng vẫn chỉ là môt cô gái mãi dâm, hay nói nôm na, một con đĩ.






Sau này kể từ khi vào đời, làm ông thầy giáo, lấy vợ đẻ con, tôi đã tự buộc tôi vào khuôn vào khổ, không phải khuôn khổ đạo đức hay cái gì khác mà là khuôn khổ của nhà trường và của gia đình. Mười mấy năm tôi không còn cơ hội đến với thân xác những cô gái đó nữa. Tôi đã không còn cơ hội để nói chuyện với họ, để tìm hiểu họ. Đêm về khi đi qua những con đường dài có bóng tối, có ánh đèn, có thấp thoáng hình bóng họ sau những thân cây chạy dài theo con lộ,


nhiều lần tôi đã muốn ghé lại, nhưng rồi lại thôi. Một sự tiếc thương dĩ vãng, một sự nhớ nhung hay thèm thuồng? Một ao ước đổi thay hay dư âm của đam mê? Tại sao muốn rồi lại thôi, tôi cũng chẳng hiểu. Sợ tai tiếng? sợ bệnh tật? sợ quen thói? Hay sợ làm buồn khổ người vợ mình thương yêu? Hay chỉ là sự chán nản? Tôi như thế, tôi vẫn luôn luôn như thế! Tự mâu thuẫn, muốn đấy rồi lại thôi đấy, vui đó rồi lại buồn, phấn khởi chưa được bao lâu thì đã lại chán nản. Phải chăng vì tôi sinh ra vào cái tháng mà tử vi phương tây gán cho cái dấu hiệu của cái cân cứ bất thăng bằng, cứ đổi thay liên tục?






Lần đầu tiên tôi chở gái mãi dâm trên xe, tôi chẳng biết họ là gái mãi dâm. Tôi chưa có kinh nghiệm trong nghề, chưa biết phân biệt khách, nhất là chưa có con tinh đời của kẻ chạy xe chuyên nghiệp. Tôi còn mắc cở khi nói giá với khách đi xe, chạy thì chỉ lo đạp, chẳng biết mở mồm nói chuyện. Khách trả giá nào cũng ừ, nói tên đường này mà lại nghĩ đường khác. Như vậy thì làm sao phân biệt được giữa một cô gái nhà lành với một gái điếm? Trừ phi gặp một gái điếm già, chai đá trong nghề, ăn mặc hở hang, phấn son loè loẹt, nồng nặc mùi nước hoa rẻ tiền và ăn nói sổ sàng. Mà ở Saigon bấy giờ không chỉ có loại gái điếm đó. Nhiều cô cũng hiền lành, ăn nói cũng dễ thương thì lấy gì để mà bảo họ là gái làng chơi?


Một lần tôi chở một cô gái từ Tô Hiến Thành đến rạp hát Nam Quang. Tôi đang từ trong một ngõ hẻm đạp ra vì mới đổ khách thì một người con gái có dáng dấp của một nữ sinh, không phấn son gì nhiều, ăn mặc không diêm dúa giơ tay vẫy khẽ. Tôi thắng xe ngay bên người con gái ấy và hỏi nửa bông đùa “Đi đâu cô hai? Cứ lên xe đi rồi tính, khỏi trả giá. Tôi không khi nào ăn mắc cô hai đâu!” Người con gái ngước mắt nhìn tôi. Nàng đẹp, thật đẹp! Cái đẹp đơn giản của con gái Việt nam hiền dịu. Không phải cái đẹp kiêu căng quyến rũ , không, chỉ là cái đẹp đơn giản của đôi mắt đen láy, lông mi dài, cái mũi dọc dừa, làn môi mỏng nhỏ và hồng hào. Cái đẹp của lối nhìn e lệ, của cử chỉ nhẹ nhàng, của lời nói thỏ thẻ. Sao bảo đó là một cô gái bán thân nuôi miệng? Cô bé này còn nhỏ, chỉ mười bẩy, mười tám, hơn con gái tôi vài tuổi. Vậy mà tim tôi đập dồn dập. Cái gì quyến luyến tôi vào lúc đó? “Chú cho cháu đến rạp hát Nam Quang. Bao nhiêu hả chú?” Tôi đành nói “năm đồng”. Đã hỏi thì phải nói giá. Năm đồng hơi nhiều nhưng trả giá là vừa. Bốn đồng thì tốt, còn ba đồng thì đi cũng được vì tôi đang đi trên đường về. Còn hơn là đi xe không! Con đường Lê Văn Duyệt có đường xe lam nên ít ai đi xích lô. Xe trở xuống có khách nhưng trở lên thường đi xe không, nên tôi ít chạy đi Chí Hòa. Thà rằng đi hẳn xuống ngã tư Bẩy Hiền hay đến tận Xóm Mới, ăn hẳn một cuốc dài mà lúc lên lại có khách. “Cháu chỉ có hai đồng, chú đi không? Nếu không cháu đi xe lam”.


Đi xe lam chỉ mất năm hào! Hào, cái danh từ miền bắc để chỉ cắc do bọn Việt cộng đem vào dùng trong miền nam! Đầu tôi suy nghĩ mung lung. Tôi lưỡng lự. Ai đi xích lô mà lại trả hai đồng? Đi cũng cả hai cây số chứ ít sao? Vào lúc khác tôi đã từ chối.


Tôi đã từng nói với các em út chạy xe cùng với tôi là khách mà trả rẻ thì đừng có bước lên xe tôi. Đã có lần tôi ngồi trên xe chờ khách ở rạp Lê Lợi, đường Gia Long. Một người đàn bà ăn bận sang trọng lại gần , hỏi tôi đi chợ An Đông ở Chợ Lớn ăn bao nhiêu. Tôi nói bẩy đồng. Bà ta trả giá bốn đồng và hỏi tôi có đi không? Tôi nhìn bà ta vời nụ cười hơi đểu và trả lời “Đi, bà leo lên đạp, đến nơi tôi trả bà bốn đồng!” Bà ấy nguýt tôi một cái dài và kêu tôi là đồ mắc dịch, và nói to “đi thì đi không đi thì thôi, mắc mớ gì mà chọc tôi?” Tôi trả lời “ Tui mà chọc bà thì bà sướng, bà đâu có chửi tui!” làm cả đám chạy xích lô quanh đó cười rộ! Tôi vốn ghét những kẻ có tiền mà bủn xỉn đi xe mặc cả từng đồng hay trà rẻ, bóc lột sức lao động của tôi. Mồ hôi tôi phải đổ ra mới đổi được lấy đồng tiền. Nhiều con mẹ còn nói “ sao chú ăn mắc quá vậy? Muốn bóc lột tôi hay sao đây?” Tôi trả lời đểu “ Bóc tui không bóc, nhưng lột thì tui muốn lột lắm! bà có chịu không?” để rồi tôi bị chửi cho một hồi.






“Đi không chú?” Câu nói làm tôi tỉnh lại. Tôi nhìn người con gái mà lòng thấy rộn ràng “Lên xe đi cô.” Đến rạp Nam Quang, người con gái ấy vừa xuống xe vừa nói “chú chờ cháu một chút! Cháu đi mượn tiền trả cho chú”, rồi nàng chạy lại một người bán thuốc lá đầu đường . Tôi xuống xe, lại tựa vào bên hông chiếc xe, lấy điếu Vàm Cỏ ra hút. Chiếc díp pô (zippo) phật lửa, ngọn lửa cao bẩy tám phân, tôi châm điếu thuốc, rồi tiếng “phập” ròn tan của chiếc nắp bật lửa đóng lại. Chiếc díp pô, môt cây quẹt Mỹ, vết tích còn lại của quá khứ. Rồi đây nó cũng sẽ ra đi để đem về năm sáu chục bạc, năm sáu chục, một tháng lương công chức, đủ để các con tôi


không đói một tuần. Bao nhiêu thứ gắn bó với riêng tôi đã ra đi trước nó? Những cây píp (pipe) mà tôi yêu quí hơn vàng, những hộp quẹt ga (gas), những chiếc đông hồ mạ vàng, chúng đã từ giả tôi lần lượt kể từ những năm đói đầu tiên. Chiếc lắc (plaque) bằng bạc mà tôi đeo ở cổ tay từ những ngày còn học đại học sư phạm, tấm lắc nặng hai lượng to tướng có khắc tên tôi mà tôi đã thèm muốn từ khi còn ngồi ghế trung học, chiếc lắc đeo vào cho tôi thêm “gồ ghề”, cho cánh tay rắn chắc đầy bắp thịt nở nang tôi thêm được các “em” chú ý, thế mà nó cũng đã ra đi. Tôi chẳng còn gì của dĩ vãng, ngoài tấm thân không hồn, ngoài cái hiện tại rách nát. Cả nụ cười đã từng làm siêu lòng bao nhiêu những “em gái”, nụ cười bất hủ mà tôi đã phải đứng trước gương luyện tập công phu bao lâu, nay cũng đã biến mất trên đôi môi tôi.


Người con gái trở lại với hai đồng và nhỏ nhẻ “cám ơn chú”. Tôi thương sao cái vẻ dịu hiền của cô nàng! Và em vội vã bước đi rồi lẫn vào đám đông như muốn trốn tôi hay sao ấy, tôi thì cố nhìn theo bóng em đi về hướng Hồng Thập Tự rồi mất hút. Taị sao em trả giá đến rạp Nam Quang rồi lại còn đi đâu? tôi tò mò tự hỏi. Lòng tôi thấy xao xuyến lạ! Tại sao tôi lại cảm thấy bị thu hút bởi người con gái mà tôi không quen biết ấy? Tiếc một cái gì mình bắt đầu lưu luyến,


như kẻ yêu hoa tiếc một bông hồng sắp tàn mất, tôi vội nhét hai đồng bạc vào túi áo và nắm ghi


đông đẩy chiếc xe đi tới. Tôi chẳng buồn đạp. Đạp lâu vừa mỏi giò, vừa đau đít, cái đau đít mà chỉ có dân chạy xích lô mới thấm thiá. Đau ê ẩm, đau chịu không thấu, đau đến độ phải ngồi nghiêng sang một bên mông mà đạp một giò. Những kẻ bàng quang không hiểu tại sao lại tưởng đó là một lối biểu diển vì nghiêng người sang một bên đạo một giò thất nhiên cũng chỉ lái một tay, tay kia để lên đùi. Có người lại cho rằng đạp như thế là vì mỏi chân hay là vì chân ngắn.


Do vậy mà khi dừng lại một nơi nào đó thì dân xích lô bọn tôi thường xuống đất đứng hoặc ngồi phía trước xe. Để chiêu khách thì chúng tôi đẩy xe, vừa dễ mời mọc, vưa giãn gân giản cốt, vừa bớt tê chân, lại vừa để cơn đau đít dịu bớt phần nào.






Như thế tôi đã đẩy chiếc xe theo cô em cho đến ngã tư Hồng Thập Tự. Người con gái thấy tôi, vì không hiểu sao nàng ngoái cổ nhìn lại, hớt hãi băng qua bên kia đường lẩn vào đám đông rồi tôi thấy nàng rẽ trái đi trên đường Hồng Thập Tự về phía Bà Huyện Thanh Quan, sau đó biến mất dạng. Tôi đâu chịu thua, bèn nhẩy lên xe, vôị đạp theo, tim phập phồng như thể đang sợ mất luôn bóng dáng nho nhỏ của cô nàng. Nhưng tôi đả bị chặn ở ngã tư quá lâu và khi quẹo sang được đường Hồng Thập Tự thì không còn thấy người con gái ấy nửa. Nàng đã lẩn đi đâu? Dưới ánh sáng lờ mờ của con đường thiếu bóng đèn này, tôi khó có thể mà kiếm được lại cô bé ấy. Nàng đã lẩn đi đâu? Vào một căn nào đó hay vào bóng tối của những bóng cây? Tôi cảm thấy thất vọng, cái thất vọng nối tiếp một sự háo hức, một sự thèm thuồng mà không được thỏa mãn. Tôi chậm rãi đạp xe tới cổng vườn Bờ Rô rồi như còn tiếc rẻ, tôi quành xe trở lại với hy vọng tìm được nàng. Và quả nhiên tôi đã thấy lại được người con gái nhỏ bé ấy. Nàng đứng sau mấy cô gái ăn sương đang tụ ba tụ bẩy ở góc Bà Huyện Thanh Quan. Ánh đèn từ chiếc cột điện bên kia đường hắt sang giúp tôi nhận diện ra dáng dấp nhỏ bé, cái dáng dấp nử sinh của nàng.


Tôi như bắt được vàng, chờ tới rồi dừng xe đậu bên một đám xích lô khác đang chờ mối bên đường. Xích lô thường đậu ở đấy vì dễ bắt được khách sộp là những dân chơi đi tìm em út. Họ đến đó bằng xe honda ôm, và ra đi với các em bằng xích lô đến các phòng ngủ. Phòng ngủ sang thì ở Nguyển Huệ, Lê Lợi, hay ở khu sau chợ Saigon. Phòng ngủ rẻ tiền thì ở khu Cầu Muối hay khu bến xe Pétrus Ký ở Chợ Lớn. Đi với các em, ít khi nào họ trả giá, và nếu có tay nào bẩn tính trả giá thì em cũng ngăn “Thôi đi đi cưng! Có bao nhiêu đâu!” và nhẩy ngay lên xe ngồi, làm cho tên bựa kia cũng phải ríu ríu lên theo. Vì vậy mà xích lô được mối ngon và dân xích lô tôi thương các em út. Nhiều bữa em ế hàng, tôi chở các em về không ăn tiền. Nhưng hiếm khi nào các em lại không có tiền trả. Trái lại, các em lại thường tỏ ra rộng rãi hơn những bà nhà giầu, đi xe ít khi hỏi giá, gọi xích lô, xe vừa đậu là các em lên ngồi, xuống xe biết điệu lấy tiền ra trả mà dân đạp xe tụi tôi không phải nói bao nhiêu. Đó là cái dễ thương của những cô gái mà xã hội lên án đó. Đứng gần các em tha hồ mà nghe các em kể lại những chuyện đời các em, những giai thoại nghe cũng vui tai. Trong khi chờ khách, càc em bô bô nói đũ thứ chuyện trên trời dưới biển, chuyện các em đi khách làm sao có, chuyện ăn diện có, chuyện tục có, chuyện riêng tư có.


- Cái thằng lé đó nó chịu chơi lắm, chịu chi cho em lắm, mấy chị ơi! Tối qua hắn đưa em lên chọ Cũ ăn, rồi về quần quật với em suốt đêm. Sáng ra còn chưa muốn đi. Hắn cho em thêm năm chục buộc boa nữa đó!”


- Thằng cha hôm qua chị đi nó hứa mua cho chị cái áo mới. Nó mết chị lắm! Nhưng chị đâu


có mê nó, chỉ mê tiền của nó thôi! Nghe giọng nó thấy mà phát ghét. Lại còn khoe là thủ kho to hơn thủ trưởng. Nhưng nó có tiền các em ạ! Có tiền là mình đi, phải không các em?”


- Tết này em về quê có lẽ ở luôn dưới đó! Ba má không muốn em ở trên đây một mình! Em chẳng biết phải làm sao nữa! Em cũng không muốn làm cái nghề này goài!






Và còn biết bao nhiêu mẩu chuyện vui buồn khác!


Nhiều tay xích lô chịu chơi cũng bắt một em. Tôi ít khi đứng nơi đó, không phải vì sợ dị nghị mà chỉ vì trong tôi vẫn còn sót ít nhiều những tồn tại của một đời thày giáo, tôi vẫn còn e dè , vẫn còn dư âm của những ngày sống theo đạo đức của một nhà mô phạm. Tôi không đứng đó chờ khách như bao nhiêu những tay xích lô chuyên nghiệp khác. Vả lại tôi thường muốn tránh cái cảnh dành mối, nhiều khi đi đến những vụ cãi nhau hay ẩu đả. Tôi vẫn luôn luôn sẵn sàng chịu thiệt, sẵn sàng nhường khách cho những xe khác. Chính nhờ vậy mà tôi được cảm tình của những đồng nghiệp chạy xe cùng bến. Lắm khi tôi chẳng thiết chạy, ngả giá xong tôi kêu em út chạy thế. “ Sao chú không chạy? Năm đồng về Thị Nghè là ngon rồi đấy chú!” Tôi chỉ trả lời “Ngon thì chạy đi cho rồi còn ấm ớ nữa! Không chạy tao chạy bi giờ!”






Và khi cô bé thấy tôi lại xuất hiện thì nàng lại quay đi chỗ khác. Tôi ngồi trên xe nghĩ ngợi dăm ba phút rồi đạp xe ra đi. Tôi đã biết sự thật. Đầu tôi suy nghĩ mung lung, nghĩ gì nay tôi chẳng còn nhớ. Có thể tôi đã nghĩ đến thân phận người con gái bé bỏng ấy? Cái gì đả xô đẩy em vào vực thẳm của tội lỗi, của cái nghề hèn hạ này? Tuổi ấy là tuổi học trò đệ tam hay đệ nhị hay đệ nhất. Có phải cách mạng đã đưa đẩy em đến sự “đổi đời” này? Hay cha em là một sĩ quan “ngụy” đi học tập? Em bán thân nuôi ai? Chắc chắn không phải để nuôi thân em vì em không có gì cho thấy là thuộc hạng gái thích hưởng đời. Em đã rơi vào cái nghề này bao lâu rồi? Chắc chắn là chưa lâu lắm vì em vẫn còn dáng dấp của người con gái nhà lành. Và tôi đã buồn cho thân phận những người con gái đó.


Hoàn cảnh nào đã buộc chúng tôi phải hy sinh, phải đi vào con đường mà mình không muốn đi vào? Định mệnh nào đã an bài cho chúng tôi cái thân phận hẩm hiu đó? Thật đáng buồn, đáng khóc! Khóc cho những kẻ như chúng tôi đang lăn lộn khổ sở để tồn tại, khóc cho thân phận của bao nhiêu người vì thời cuộc phải chịu chua sót đắng cay. Tôi đạp xe ra đi để tránh nhìn người con gái ấy.


Ngày nay tôi vẫn còn hình dung được nàng đứng sau những chị em bạn gái ở góc đường Bà Huyện Thanh Quan và Hồng Thập Tự. Giờ này tôi ngồi trên đất Mỹ, còn nàng đang ở đâu? Còn đêm đêm luẩn quẩn trong bóng tối của những con đường Saigon thiếu ánh đèn hay không? Hai năm đã trôi qua, giờ đây chắc nàng chẳng còn cái e lệ ngượng ngùng thuở ấy. Thân xác nàng đã bị bao nhiêu người đàn ông xa lạ dày vò, tâm hồn nàng hẳn đã chai đá! Hay giờ này nàng đã trở thành một bà cán bộ? Tôi cũng cầu xin được như vậy, để cho nàng bớt tủi thân, bớt phải chịu đựng. Tôi thành thật cầu như vậy.






Tôi đã để chiếc xe đạp sát vỉa hè và đừng đó chờ. Lon ngay khi dừng xe đã chạy đi đâu tôi không biết. Thật là lạ lùng! Trong chuyến đi này, tôi đã chỉ còn là một cái máy, một thân xác không hồn. Lon bảo làm cái gì thì tôi làm cái nấy, anh vẫy tôi đi theo, anh không nói gì tôi đứng đó chờ. Tôi chẳng phải suy nghĩ tính toán gì, tôi đã phó mặc cho Lon quyết định mọi đường đi nước bước. Tôi đã trở thành hoàn toàn thụ động và tùy thuộc vào sự suy tính và phán xét của Lon. Anh bảo tôi lên xe đạp, tôi đạp; anh bảo tôi ra ngồi đằng sau, tôi ra ngồi đằng sau. Đang đi, anh bảo tôi ngừng, tôi ngừng, anh bảo tôi vào ăn, tôi theo anh vào quán ăn. Thậm chí anh hỏi tôi muốn ăn gì, tôi củng chẳng trả lời. Ăn đối với tôi vào lúc đó chỉ là một nhu cầu phải giải quyết cho xong, ăn cũng không thấy ngon lành gì thì việc gì phải bận tâm chọn món? Vả lại dường như óc phán xét của tôi đã không còn hoạt động nữa, vì ngay cả ý niệm thời gian tôi cũng không còn.Tôi đã đứng đó bao lâu, tôi không biết, nửa giờ hay một giờ? Lâu hay chóng? Tôi chỉ nhớ rằng lòng tôi lúc ấy không yên.


Cách tôi khoảng năm chục thước, ngay đưới bóng mát của một cây lớn, có một chiếc xe bò chở rơm, và hai con bò đang được thả lỏng ngay đó để ăn cỏ. Tôi vẫn luôn luôn có cảm giác đang có ai đó rình mò, nhìn trộm tôi, ai đó vẫn theo dõi tôi từ lúc tôi đi khỏi Bát Tam Băng, nên thời gian chờ đợi đối với tôi thật là khổ sở, khó chịu, bực bội. Tôi không biết phải làm gì để cho tâm trí tôi bớt căng thẳng. Đứng mãi một nơi tôi sợ bị để ý nên tôi lại gần chiếc xe bò, đừng đó nhìn hai con vật ăn cỏ. Một đứa bé không biết có phải đang trông hai con bò hay không, đứng nhìn tôi với đôi mắt tròn xoe. Có lẻ nó lấy làm lạ là tại sao tôi lại đứng đó nhìn hai con bò ăn cỏ. Và để tránh ánh nhìn ngây thơ của thằng bé, tôi lại lững thững đi nơi khác. Tôi đến ngồi trên một bực đá cao, những tảng đá lớn đã được đẽo thành hình hộp dài, có thể trước kia là những bực thềm cho một ngôi tượng lớn hay một ngôi miếu nay đã bị tàn phá? Khi ngồi viết lại những giòng này tôi không nhớ tôi đã làm gì lúc tôi ngồi đó. Tôi chỉ nhớ rằng sau đó tôi đứng dậy, băng qua đường và đi theo con đường rầy xe lửa, đến một bức tường rất lớn, đứng đó tiểu, rồi lại lững thững đi về chỗ tảng đá ngồi hút thuốc.


Tôi đã hút cả nửa gói thuốc rồi mà Lon vẫn chưa về, trong lòng tôi càng thấy lo. Trong cái thời gian dài lê thê ấy, tôi cảm thấy như hai cánh tay tôi là dư thừa, không biết để đâu, làm gì? Hút thuốc liên Miên tôi cũng sợ bị để ý. Nhìn chăm chú một cái gì cũng sẽ bị nghi ngờ. Đứng mãi một chỗ cũng sẽ làm cho người ta thắc mắc, mà đi đi lại lại cũng không xong. Làm cái gì vào lúc ấy cũng sẽ bị nghi ngờ. Tôi đã như quẩn trí, không biết phải làm sao để tự trấn an, lúc nào cũng như đang bị đe dọa, đang trong một tình trạng hồi hộp, như sắp sửa bị nguy hiểm đến nơi mà lại thấy mình bất lực không làm được gì để thoát ra khỏi cái tình trạng lo âu đó.






Nay ngồi yên bình trong căn phòng nhỏ chỉ có một cái nệm rách đi nhặt được ở ngoài phố đem về phơi nắng ba ngày cho bớt mùi hôi hám, cái nệm loang lỗ những vết tích yêu đương được che đậy dưới tấm vải phủ giường ngà ngà trắng, tôi cảm thấy sung sướng sao khi ngồi dưới sàn gổ viết lại, trên chiếc bàn nhỏ bề ngang năm mươi, bề dài sáu mươi, chân sắt cao bốn mươi phân, những giòng kỷ niệm lịch sử này của đời tôi. Tôi thấy sao tôi đã vô lý, sao tôi đã ngớ ngẩn, thiếu tự tin, thiếu suy xét như thế được? Có gì đâu mà phải lo phải sợ? Bao nhiêu gan lì, bao nhiêu can đảm, bao nhiêu tự chủ của tôi đâu mà để phải hồi hộp run sợ như vậy? Nhưng tôi đã quên mất rằng lúc đó tôi đâu có ở đất Mỹ, tôi đang ở vùng “ngã ba biên giới” trên đất Miên, mảnh đất đang dưới sự tranh chấp bằng mìn và súng đạn của bao nhiêu lực lượng đối kháng, mảnh đất của bắt bớ giam cầm, hãm hiếp cướp bóc, mành đất của hận thù, cáp duồn? Nay có cho tôi bạc vàng và bảo tôi về đó đứng trong hoàn cảnh như thế thì tôi cũng sẽ không dám.






Nhiều bạn bè đã cho rằng tôi đã can đảm, nhưng kỳ thực tôi đã chẳng can đảm gì. Chẳng qua là vì tôi đã bị dồn vào đường cùng, vào ngõ bí phải bằng mọi cách tìm lối thoát. Tôi thì lại nghĩ rằng chính họ, những bạn bè tôi, mới can đảm vì họ dám ở lại, có gan chiụ đựng những gì mà tôi không chịu đựng nổi, những gì đã thúc tôi, buộc tôi phải ra đi một mình, ra đi để rồi sau đó trong bốn năm năm bị vợ tôi than trách trong hàng trăm bức thơ dài, cho rằng tôi đã ích kỷ, đã chỉ nghĩ đến thân tôi, đã vô trách nhiệm, đã để lại một đứa con trong tù, ba đứa con bơ vơ cho một mình vợ tôi lo, trách rằng nay tôi đang sung sướng hưởng đời, đang đi du hí với các cô gái Việt, gái Mỹ, gái Lào, gái Miên.






Trong khi ấy tôi chỉ là một tên tị nạn khốn nạn đi làm bồi bàn, phụ bếp, xếp đồ trong siêu thị để lãnh ba đô la một giờ! Nghĩ đến cái thân phận ăn mày của mình, tôi đã từng khóc, không khóc oà lên tiếng, không nức nở, nhưng khóc trong âm thầm, một mình trong căn phòng lạnh lẽo. Phải, tôi đã chẳng khóc hay sao khi những giòng nước mắt cứ chảy xuống má tôi? Tôi đâu có muốn những giòng nước mắt ấy chẩy, tôi đâu có muốn là một kẻ yếu hèn, nhưng tim tôi nó cứ thổn thức, mắt tôi nó cứ đẫm lệ, mặt môi tôi nó cứ mếu xệ thì làm sao?


Tôi đã xấu hổ với chính tôi, tôi đã lê chân trên những con đường thênh thang của thành phố Nữu Ước, tự nhìn hình bóng mình trong những tấm kính, tấm gương to của những cửa hàng lớn để rồi tự nhủ “tại sao mình lại ở nơi đây? tại sao mình lại một mình ở cái nơi xa lạ này?” Tôi đã tự hỏi tôi như thế không biết bao nhiêu lần, cũng như tôi đã để óc tôi quay cuồng và nước mắt tôi chảy ra. Tôi đã tự hỏi như thế khi đứng trong căn bếp thênh thang chặt hàng trăm con


gà đông lạnh để bỏ vào trong chiếc nồi điện đầy nước, đường kính hơn cả thước, tay đã vừa mỏi vừa lạnh cóng mà không dám nghỉ vì vừa nghỉ là tên đầu bếp tây H. K. liền chửi khéo “D., tu es déjà fatigué? Tu veux que je te donne un coup de main?” có nghĩa là “mày đã mệt rồi ư? Mày có muốn tao phụ không?” để rồi tôi phải trả lời cũng bằng tiếng tây, cái thứ tiếng tôi đã học trong mười mấy năm trời, “Non, merci! Tu es très gentil, H.!” có nghĩa là “Không, cám ơn mày. Mày tử tế lắm H. à!” nhưng kỳ thực trong lòng tôi, tôi đã muốn nói “ Tiên sư mày! Mày có để ông yên không? Ông đang nghĩ đến cái thân phận khốn nạn của ông đây!”


Tôi cũng đã hỏi như thế khi năm sáu giờ sáng tôi đã phải tỉnh dậy khi trời con tối om, vào cái mùa đông lạnh giá của vùng Long Island, Nữu Ước để rồi phải đi bộ mấy cây số trong tuyết cao hơn mắt cá chân đến cửa tiệm bán trái cây của tên chủ người Đại hàn, phụ nó khiêng những thùng trái cây nặng chĩu, đem từ xe vận tải vào kho hay đem bầy lên giá gỗ để khách dễ chọn mua. Và còn bao nhiêu câu hỏi khác nữa nói lên cái tính cách vô lý, mâu thuẫn, nghịch thường của tâm tư tôi vào cái khoảng thời gian đó của cuộc đời tôi.














Khi Lon đã trở lại thì cũng là lúc cháu bé tôi cùng tên dẫn đường về đến nơi hẹn. Hai anh em Lon to nhỏ với nhau, gật gật gù gù, xong hai đứa kéo nhau ra đi đâu tôi cũng chẳng hay. Họ băng qua đường vào một khu chợ trời nhỏ. Tôi và cháu bé vẫn đứng đó, mừng mừng tủi tủi, hai cha con gặp nhau mà chẳng dám nói chuyện. Tôi cứ sợ người ta dòm ngó nên đứng bên cháu tôi cũng không dám đứng lâu. Nhìn vẻ mặt bơ phờ của con, tôi thấy lòng tôi se lại. Tôi biết cháu mệt lắm vì đường đi quá gian nan. Mà đến đây đã hết đâu? Còn cả năm bẩy cây số đường rừng nữa, không hiểu rồi cháu có chịu được nổi hay không? Nắng gay gắt vùng biên giới đã làm cho da cháu ửng đỏ, cuộc hành trình đến giai đoạn này không còn đượm vẻ một cuộc đi ngao dư như trước đấy và tôi không còn thấy cháu cười thích thú như lần tắm sông Bát Sắc hay sông Puốc Sát.


Vài phút sau Lon trở lại dẫn chiếc xe của thằng em cột chèo đi và bảo tôi dẫn xe và cháu theo. Chúng tôi đi vào khu chợ lộ thiên rồi Lon và tôi dựng hai chiếc xe bên tường đi vào một quán ăn. Chúng tôi ngồi trên một sạp gổ cao ăn cơm với canh chua cá lóc, cà ri gà nấu với khoai lang. Ăn xong chúng tôi còn ngồi đó nói chuyện. Lon và thằng em nằm xuống sạp ngủ một giấc ngon lành, trong khi tôi và cháu bé chỉ biết ngồi đó chờ. Một lát sau, một người dẫn đường khác


trong nhóm đến chỗ chúng tôi ngồi, đưa tay lên mồm ra dấu bảo tôi đừng nói gì. Hắn mua bốn


bịch cơm gà và trước khi rời quán hắn đánh thức Lon dậy. Anh chồm dạy, đội nón lên đầu rồi ra đi theo tên kia trong khi Kết vẫn nằm đó ngủ ngon lành.


Nửa giờ sau Lon trở lại, đánh thức em hắn và chúng tôi lại lên đường. Tôi vừa dắt chiếc xe đạp ra đến con lộ thì thấy Hinh vừa tới. Sau đó là một người dẫn đường khác chở bác Lũy. Từ sáu giờ chiều hôm trước cho đến lúc ấy tôi chưa hề thấy Hinh và bác Lũy, nên tôi cũng mừng khi gặp lại hai người đó. Một lúc sau tôi thấy một người dẫn đường nửa là tên Miên tôi đã gặp trên mui xe lửa khi gần đến Puốc Sát. Như thế chỉ còn thiếu người dẫn đường đèo thằng bé Huân. Tôi hỏi Hinh em nó đâu thì nó nói không biết. Tôi có ý muốn đợi thằng Huân, nhưng cả bác Lũy lẫn Hinh đều sốt ruột muốn đi liền. Thế là cả bọn chúng tôi lên đường. Chúng tôi đi lòng vòng nhiều khu phố trước khi đến khu chợ và những người dẫn đường đi vào một con hẻm nhỏ họp với nhau một lần chót.






Trong khi chờ đợi, Hinh cho tôi biết là năm giờ sáng hôm đó cả nhóm đã ra đi cùng một lúc, nhưng vì kẻ đi nhanh, người đi chậm nên lạc nhau và sau đó Hinh không còn thấy em nó nửa. Tôi bảo cho nó hay là tôi đã gặp Huân lúc mười giờ sáng, Hinh tỏ vẻ vừa mệt vừa mất bình tĩnh. Tôi nói lại một lần nữa là tôi muốn chúng tôi nán lại chờ thằng bé Huân, vì tôi thấy tội nghiệp nó còn nhỏ, mặc dù tôi biết con đường lên biên giới từ đấy trở đi lắm chông gai, rất nguy hiểm, mạng ai nấy lo, không ai có thể trông chờ vào người khác được. Tuy vậy trong thâm tâm, tôi vẫn muốn có bên nhau, tôi vẫn thèm nhìn thấy nhau cùng sống hay cùng chết, cùng hưởng một số may mắn hay chịu một phận hẩm hiu.






Lon trở ra bảo tôi lên xe đi thì tôi còn chần chừ. Tôi thấy con tôi ngồi sau Kết bên một bức tường cao của một tòa nhà to lớn, trông tựa như một trường học. Hình ảnh đó in sâu vào tâm


trí tôi, vì sau lúc đó trở đi tôi không còn gặp lại cháu nữa. Nó đã ám ảnh tôi bao đêm tôi trằn trọc không ngủ, trong những ngày tháng dài tôi không được tin gì của cháu. Tuy trong những lá thơ viết về gia đình tôi nói là cháu bị lạc ở vùng biên giới và nhắn vợ tôi phải bằng mọi cách đi tìm cháu về, nhưng trong lòng tôi không biết cháu chết hay sống và nếu nhờ trời phật còn sống thì cháu đang ở đâu?


Hinh và tên Miên đi dẫn đầu mỗi người một xe đạp đã ra đi từ lúc nào rồi. Sau đó một hồi, tôi thấy người dẫn đường chở bác Lũy đi qua trước mặt tôi.






Lon ngồi sau giục “Thôi đi!”, tôi hỏi lại “con tao đâu?” thì anh như muốn an tâm tôi, nói “ Nó ngay đằng sau! Đi đi!” Tôi đạp xe tới mà vẫn thỉnh thoảng cố quay về phiá sau nhìn xem có thấy con tôi hay không. Khốn nổi không có kính thì tôi chỉ thấy lờ mờ được gần, còn xa thì làm sao mà thấy? Thật là trớ trêu! Lúc đó tôi mới thấy tôi lỡ dại và như các cụ ta xưa kia nói “trăm cái dại không dại nào giống dại nào!”, tôi đã mù đã câm đi vào chỗ nguy hiểm mà lại còn đèo bồng theo cháu bé! Lúc tôi biết tôi dại thì đã quá trễ!


Lon ngồi sau thấy tôi chần chừ bèn nói “đi nhanh lên! nhanh lên!” Tôi thấy một cái gì khó chịu trong ruột gan, một điềm gì đó tôi không hiểu, như một linh tính báo cho tôi rằng có chuyện gì sắp xẩy đến cho chúng tôi. Tôi cứ hỏi “con tao đâu?” thì Lon cứ trả lời “đằng sau. Đi nhanh đi!” Tôi nhớ rõ con đường xuống dốc chạy ngang qua bến xe để đến khu chợ. Khu vực này đông người qua lại tấp nập, nên mấy lần tránh né không kịp, tôi suýt đụng vào người khác. Càng vào


giũa chợ, người và xe lại càng đông, những xạp hàng chỉ cách nhau có hai thước mà người đi


lũ lượt, chen chúc nhau. Tôi không hiểu tại sao Lon lại chọn lối này mà đi. Lon ngồi sau tôi luôn miệng pim pim để cho mọi người tránh, nhưng chẳng ai thèm tránh cả, cho đến khi tôi loạng choạng đâm vào một tên Miên thì anh mới vội nhẩy xuống.






Tên Miên nhìn tôi bằng đôi mắt nẩy lửa, chửi tôi một chập rồi thấy tôi không nói gì, hắn sừng sộ đòi gây chuyện. Lon phải năn nỉ xin lỗi, trong khi tôi cứ giả điếc, giả câm nhưng kỳ thực thì lúc đó tôi chỉ sợ tên Miên kia làm to chuyện, công an sẽ đến thì mọi chuyện sẽ đổ bẻ. May mắn thay, hắn nguôi giận và chúng tôi ra đi được bình yên. Tôi tính lên xe đi tiếp, nhưng Lon dành lại và đạp đi một mình để tôi phải lẽo đẽo đi bộ theo sau. Thật khốn nạn cho tôi, vì chỉ một lát sau tôi không còn thấy anh đâu nữa! Tim tôi đập liên hồi, tôi chưa biết xoay sở ra sao, cứ cắm đầu mà đi theo con đường đất đỏ, vừa bước đi vừa chạy, mắt cố giương lên mà chẳng nhìn được xa xa. Tôi thở hổn hển, vẫn cố chạy, đầu óc quay cuồng những lo sợ, tim tôi đập dồn dập. Tôi cứ cuống cuồng đi tìm Lon như thế tôi không biết trong bao nhiêu lâu, nhưng lúc đó tôi như người không biết bơi rơi xuống biển mà lại chẳng có gì để bám víu vào. Có lẽ tôi chưa bao giờ sợ hơn như thế trong đời, kể cả lần chạy trốn sau đó khi mà bọn bộ đội bắn theo tôi, khi mà tôi liều mạng chạy.






Thế rồi tôi tìm lại được Lon. Anh đứng chờ tôi ở ngã ba, chỗ con đường đất đỏ đổ ra con đường nhựa. Nhìn nước da mặt xanh lè như tầu lá chuối của anh, tôi biết anh cũng đã sợ, cũng đã hoảng khi tôi đụng phải tên Miên. Tôi chưa kịp nói câu nào thí anh đã bảo “ Thôi, lên xe nhanh đi!” rồi anh đạp tới.


Kể từ lúc ra con đường trải nhựa, con đường tấp nập những người đi buôn bằng xe đạp cho đến khi chúng tôi gặp nạn, tôi không hiểu khoảng cách xa bao nhiêu cây số. Tôi chỉ nhớ mang máng là Lon đã đạp qua hai cây cầu và hai bên đường có nhiều trại lính, nhiều vùng đất chăng giây kẽm gai. Tôi có cảm tưởng rằng đấy là một khu quân sự. Bên trái có một dẫy nhà mái lợp tôn chạy dài. Qua cây cầu thứ hai, có một ngã ba và con đường chạy vào lại chẻ ra làm đôi và có một bùng binh, những nhà xung quanh đó có hai tầng và có treo cờ làm tôi suy đoán rằng đó


là bộ chỉ huy quân sự của vùng này. Những hình ảnh này tôi chỉ còn nhớ lờ mờ, vì lúc đó tôi


đâu còn ruột gan để mà nhìn, mà quan sát cho kỹ. Tôi đang ở trong trạng thái thất hồn vì vụ đụng người ta ở chợ Xoay và sau đó vụ bị lạc không biết lối đâu mà đi, tưởng như xong đời rồi.






Đi qua cây cầu chừng hai trăm thước, Lon dừng lại và đưa xe cho tôi bảo tôi cứ thản nhiên đạp tới, chớ có tỏ vẻ sợ sệt, và hẹn gặp tôi khi đã qua đồn lính khoảng môt cây số. Tôi sẽ chờ anh ở đó và anh sẽ từ từ đi bộ tới gặp tôi. Tôi ngồi lên xe, vừa đạp tới thì thấy Hinh. Dường như


Hinh dừng lại nơi đó chờ tôi cùng đi. Tôi hỏi khẽ nó “Bác Lũy đâu?” thì nó hất đầu nhìn về phía trước, và như thế hai đứa tôi cùng đi bên nhau. Xung quanh tôi, những đoàn người đi buôn vẫn tấp nập đi, họ vượt qua mặt chúng tôi tiến về phía trước.


Chúng tôi đạp được năm phút thì thấy đồn gác, lúc đó cách chúng tôi chừng năm chục thước. Tôi bổng nghe tiếng súng tạch tạch tạch đằng xa nhưng vẫn bình tĩnh đạp tới. Tôi biết là nguy đến nơi rồi nhưng không dám quay trở lại vì sợ bị lộ diện. Tôi nghĩ trong đầu rằng thà cừ bình tĩnh đi tới, coi như không có chuyện gì xẩy ra, thì còn có cơ may thoát. Khi qua cổng đồn tôi thấy ba bốn tên bộ đội cầm súng AK và B40 đang xét hỏi những con buôn, và hai tên đứng ngang bên đường lựa những kẻ khả nghi để bắt lại. Số người bị kiểm soát trước cổng đồn cũng


tới vài chục người và sẽ còn tăng lên nữa.


May mắn cho tôi và Hinh không bị chặn lại, nhưng tôi xanh mặt khi thấy bác Lũy lững thững đi ngay đó. Tôi hiểu ngay rằng bác đã bị bắt là vì nước da trắng, đầu tóc bạc phơ, sống mũi cao trông như tây, ai nhìn cũng biết ngay không phải là Miên, càng lại không phải là dân đi buôn. Do đó mà bác bị lộ ngay khi qua trại kiểm soát này và có thể vì thế mà bọn bộ đội nghi ngờ còn nhiều dân đi vượt biên cùng, nên mới chặn bắt như thế.






Tôi không còn nhớ rõ cảm giác của tôi lúc đó thế nào, tôi chỉ nhớ rằng tôi luôn tự nhủ là phải bình tĩnh, không được tỏ ra sợ sệt, không được luống cuống. Tôi hiểu rằng nguy cơ vô cùng lớn đang bao vây quanh chúng tôi và tai hoạ có thể đổ xuống đầu tôi bất cứ lúc nào. Do đó, tôi không tỏ run sợ ra mặt, tôi cố gắng tự chủ, tự kiểm soát những hành động và cãm xúc của mình. Đầu óc tôi sáng suốt lạ thường!


Khi chúng tôi đi cách xa cổng đồn được trăm thước, tôi ra dấu cho Hinh là phải đạp nhanh hơn lên. Thế rồi chúng tôi đi thêm đuợc hai trăm thước nữa, tuởng rằng đã thoát nạn, nên tôi thở phào nhẹ nhõm. Không còn lính gác, không còn phải sợ nữa, tôi đã nghĩ như thế.


Nhưng số chúng tôi không may mắn trọn vẹn. Vào cái giây phút mà chúng tôi tưởng đã tai qua nạn khỏi, thì một tràng AK lại nổ ròn ngay sau lưng chúng tôi, làm cho tôi giật nẩy mình. Và quả nhiên một chiếc honda chở hai tên lính, đi qua mặt chúng tôi, tên ngồi đằng sau ôm khẩu AK, mũi súng chĩa vào một vài người trong đoàn xe đạp đang đi, nói một tràng tiếng Miên. Tôi thấy dăm bẩy người dừng lại dẫn xe vào lề đứng. Tôi và Hinh vẫn bình tĩnh đạp tới cùng với số con buôn còn lại. Thật là kinh hồn! Tôi không biết những giây phút nghẹt thở ấy kéo dài bao lâu. Tôi chẳng dám quay đầu nhìn lại mà chỉ cặm cụi đạp. Dường như đầu tôi lúc đó trống rổng, tôi chỉ hành động theo bản năng.


Trong một giây lát tôi không nghe thấy tiếng honda đằng sau chúng tôi nữa. Có lẽ hai tên lính đã tạm dừng lại để ra lệnh cho nhóm người vừa bị chặn bắt đi quay lại trở về đồn. Nhưng chỉ hai ba phút sau đấy chiếc honda lại chồm tới. Mũi súng AK lại chĩa vào một số người, có tôi trong số đó và tôi đã gật đầu lia liạ khi tên Miên hét lên trước mặt tôi một câu dài mà tôi chẳng hiểu hắn muôn nói gì. Tôi dừng xe lại đi vào lề đuờng thì vẫn còn thấy Hinh tiếp tục đạp xe đi. Tôi chỉ lầm lũi bước theo đám người bị bắt cùng để về đồn.






Tôi nghĩ đến thân phận khốn nạn của tôi, thân phận ăn mày của kẻ sắp lại trở vào tù, lại chịu khổ, chịu sở. Tôi nghĩ đến những cuộc hạch hỏi, những cuộc khám xét người, đến những cuộc cướp bóc mà công an bộ đội là thủ phạm và chúng tôi là nạn nhân. Khoảng đường chưa đầy hai ba trăm thước đưa tôi từ nơi bị chặn lại cho tới cổng đồn, tôi đã phải đi mất bao nhiêu lâu? Trong thời gian đó, khúc phim thu cảnh chúng tôi đã bị bắt lần trước tại Tiền Giang đã hiện ra trong tâm trí quay cuồng của tôi, như là một đoạn phim kinh hoàng khiếp đảm, gợi lại cho tôi những sự thể vừa hãi hũng vừa đáng khinh bỉ, vừa đau thương lại vừa nhục nhả và đầy uất hận.






Lúc ấy là tám giờ sáng. Những tiếng súng nổ hàng tràng dài, nổ dòn như tiếng pháo tết, làm tất cả chúng tôi bàng hoàng. Đàn ông, đàn bà, con nít, chẳng ai nói lấy một lời. Trong chiếc ca bin rộng ba trên bốn thước, chỉ còn im lặng, không còn cả tiếng trẻ con khóc. Trong cái giây phút hãi hùng ấy, hình như trẻ con cũng đã câm họng, hình như cái không khí ngột ngạt căng thẳng đã đè lên lồng ngực của tất cả mọi người, làm ngộp thở, làm cho con tim ngưng đập. Không thấy ai cử động, không thấy ai nhúc nhích, cựa quậy. Những cặp mắt nhìn nhau lo âu đầy ắp.


Các bà mẹ còn rất trẻ ôm chặt những đứa bé vào trong lòng như thể sợ ai cướp mất những đứa con của mình. Tất cả ai nấy đều chờ đợi, chờ đợi một cái gì sắp xẩy đến bất ngờ, trong giây phút sắp tới. Ai nấy đều đã biết số phận của mình. Hai hình ảnh hiện ra trong tâm trí của chúng tôi, bắt bớ và tù tội. Ai nấy đều chấp nhận định mệnh chung, không thấy có tiếng cầu nguyện của một ai trong cái lúc đau đớn ấy. Chúa và Phật đã không còn nằm trong tâm trí của chúng tôi, chỉ còn sự ám ảnh của một biến cố thảm thương đang diển tiến trước mắt chúng tôi. Một nổi buồn chen vào tim chúng tôi cùng với một nổi thất vọng chán chường lớn vô kể. Thế là hết! cuộc ra đi của chúng tôi đã chấm dứt một cách chua cay vào cái phút những tiếng AK nổ dòn như những tiếng pháo tết ấy! Thật là mỉa mai, những tiếng pháo tết đó đã cắt đứt những ước vọng mầu hồng, những ao ước cho một tương lai tươi sáng của chúng tôi. Thế là hết, còn gì nữa để mà mơ ước, để mà cầu xin?


Những tràng súng vẫn nổ liên hồi, mỗi lúc mỗi gần hơn, rồi có tiếng đạn bay vèo vèo trên đầu chúng tôi, chiếc cửa sổ lỗ chỗ những vết đạn. Kính trước ca bin bị đạn bắn thủng và nay đã nứt nẻ. Có một giọng nói từ bên trên thét xuống đầu chúng tôi, chọc thũng màng nhĩ tai chúng tôi “Tất cả! Nằm xuống hết!” Chẳng cần phải nói, ai nấy cũng đã nằm dẹp xuống sàn ca bin từ khi những viên đạn bay qua đầu chúng tôi rồi!






Người tài công đã cho chiếc ghe chạy chậm lại rồi ngừng hẳn. Hắn mở cửa sổ nhỏ ở mũi ca bin, liệng hải bàn và một số dụng cụ đi biển xuống đáy biển để phi tang. Rồi hắn chui đi đâu trốn, tôi cũng chẳng hay. Trong ca bin phía trước bây giờ chẳng còn ai. Chẳng bù với lúc trước trong căn phòng nhỏ xíu ấy luôn luôn có cả gần chục người, nào tài công, nào thợ máy, nào những tay anh chị muốn lấy oai đứng ra điều khiển con tầu, miệng luôn la lối nạt nộ chúng tôi. Bây giờ thì chúng như đàn chó cụp đuôi, chốn chui chốn lủi dưới hầm tầu.


Người đàn bà trẻ ngồi cạnh tôi từ lúc ý thức được rằng mọi chuyện đã xong, định mệnh đã an bài, đã lặng lẽ để nước mắt tuôn trào ra. Tôi không nghe thấy tiếng khóc hay tiếng nấc nghẹn nào, chỉ thấy đôi gò má đẫm ướt của nàng. Trong cơn uất hận, người ta dường như không khóc lên tiếng, không thổn thức đuợc hay sao đó! Ngưòi chồng ghé miệng vào tai vợ thì thầm điều gì đó, rồi tôi thấy nàng mở túi sách tay lấy ra một hộp sắt giống như hộp bánh bít qui pơ tí bơ (bisquit petit beurre). Nàng bảo tôi xích ra cho nàng với tới chiếc cửa sổ, lưỡng lự một lúc rồi liệng cái hộp đó xuống biển. Tôi nhìn ra biển mênh mông, nước sóng chập chờn một mầu xanh biếc, chưa kịp thấy cái hộp đó rơi thì nó đã biến đâu mất trong lòng biển.


Cái hộp coi mòi nặng dữ và tôi biết nó đã chứa bao nhiêu năm dành dụm của gia đình nàng. Với nó, nàng có thể mua được bao thứ cần thiết trong cuộc sống hàng ngày của gia đình, và hơn thế nữa nàng còn có thể mua được cả lòng người, mua được cả tự do hạnh phúc cho những kẻ thương yêu. Thế nhưng bây giờ đâu còn nó nữa? Nàng đã cùng chồng quyết định nhanh chóng, có thể đó đã là một sự kiện trong nhiều sự kiện mà hai vợ chồng đã bàn tính từ trước, trong cả một kế hoạc, dự tính sẵn những việc gì phải làm khi những chuyện gì xẩy đến. Chỉ khổ cho tôi là đã phải chứng kiến cái việc làm đau lòng này của nàng, chứng kiến sự hy sinh và mất mát quá lớn ấy trong cái hoàn cảnh đã bi ai sẵn này.


Người đàn bà nhìn vẻ mặt đăm chiêu của tôi, dường như thấy cần phải giải thích hành động của mình. Nàng thì thầm, như muốn vừa nói với tôi vừa nói với chính lòng mình “Thà liệng nó xuống biển còn hơn để nó rơi vào tay quân ăn cướp, phải không anh?” Tôi cũng chẳng biết nói gì hơn là gật đầu để tán thưởng cái hành động can đảm đó. Bây giờ nàng cũng như tôi và bao nhiêu kẻ khác trên con tầu định mệnh ấy đã trắng tay, bây giờ chúng tôi không còn gì để mất nữa, chúng tôi đã trở thành vô sản chân chính. Tôi nhớ câu nói của Mác hay Lê Nin gì đó “ Giai cấp vô sản chẳng còn gì để mất ngoài những xiềng xích của sự nô lệ.” Chúng tôi cũng vậy, chẳng còn gì để mất ngoài những xiềng xích chói buộc chúng tôi lại với cái chế độ này, cái chế độ mà ai cũng muốn xa lánh, kể cả những vật vô tri vô giác, như câu nói mỉa mai “Cái cột đèn nếu nó có chân nó cũng đã ra đi”.


Quang cảnh của phòng ca bin trong những giây phút ngắn ngủi đó, ngắn ngủi vì nó kéo dài có bao lâu đâu, năm mười phút là cùng, thật là kỳ ảo, lạ lùng. Chúng tôi chẳng tỏ vẻ gì hốt hoảng hay sợ hãi. Không ai kêu la hay làm một hành động gì tỏ sự mất bình tĩnh hết. Ai nấy cũng đã biết sự thể rồi sẽ phải xẩy ra như thế, ai nấy đều đã chờ đợi trong thâm tâm cái biến cố khốn nạn này, hay ít ra đã tiên đoán nó, cho nên không ai có một hành động tích cực nào. Chấp


nhận, chỉ có một sự chấp nhận thụ động, thụ động đến độ vô lý như sau này tôi đã nghĩ. Một ăn một thua, chúng tôi đã ngồi vào canh bạc này lớn nhất trong cuộc đời, chấp nhận gánh lấy chua cay nhiều hơn là ngọt bùi. Ra đi là chấp nhận tất cả, bắt bớ tù tội, cướp bóc hãm hiếp, đầy đọa và chết chóc. Như trong tất cả những canh bạc, cán cân không đồng đều cho bên thắng bên thua, ra đi là cầm cái thua nhiều hơn cái thắng, nhưng ta vẫn háo hức ra đi giống như kẻ mê chơi lao đầu vào những canh bạc sẽ đưa mình đến sự phá sãn, hay những con thiêu thân lao mình vào ánh sáng của ngọn đèn điện để gặp cái chết.






Tôi còn nhớ rõ hình ảnh của mấy chục bộ mặt, mấy chục cặp mắt nhìn nhau trong sự buồn bã, trong sự đồng nhất của cảm thông, của cùng một cảm giác gây ra bởi cùng một hoàn cảnh. Chẳng còn những cãi cọ tranh giành trước đó, chẳng còn cau có hay to tiếng với nhau, chẳng còn sự bắt lỗi nhau, sự bất đồng ý kiến. Bây giờ chỉ còn là sự im lặng, một sự đồng tình bất đắc dĩ, một sự chờ đợi chung dành cho những kẻ nay đã mất hồn, đã nữa chết nữa sống, đã trong sự bất hạnh chung bổng thấy những tị hiềm nho nhỏ rất đáng được bỏ sang một bên để cùng với nhau chịu cái định mệnh khốn nạn này. Nhìn những cặp mắt buồn và thất vọng, nhìn những cặp mắt lờ đờ không hồn, nhìn những thân xác không còn sự sống, tôi thấy sao thấm thía sự đắng cay của cuộc đời con người!


Thật là lạ lùng! Vào những giây phút đó con người tuy sống mà cũng như đã chết! Đau đớn thể xác không bằng đau đớn về mặt tinh thần. Chẳng thế mà những viên đạn bắn vèo vèo qua đầu chúng tôi làm văng những mảnh gổ lớn của vỏ tầu nhưng đã không làm cho chúng tôi sợ hãi. Chẳng thế mà những viên đạn đó đã xuyên thủng da thịt của chúng tôi nhưng không nghe tiếng kêu la hay rên rỉ.


Sau những giây phút thôi miên đó, khi chúng tôi thoát ra khỏi cơn mê, khi chúng tôi đã hoàn hồn thì nhìn thấy máu chảy và cảm thấy sự đau đớn về mặt thể xác mới báo hiệu cho chúng tôi rằng đã có kẻ bị thương và những chiếc khăn tay hay những cục bông gòn mới được chuyền tay để rịt giòng máu chảy và băng những vết thương. Nhưng còn cái băng huyết trong tâm hồn và cái vết thương trong lòng chúng tôi, lấy gì mà rịt mà băng?






Với sự bàng hoàng qua đi, với sự nhận thức thực tế trở lại là sự xôn xao, là những lời nói cử chỉ, hành động, là những tiếng khóc, tiếng nức nở, tiếng kêu la, là những tiếng động, là sự sống lại của những con người.


Ai đã nói lên tiếng nói đầu tiên, đã khóc tiếng khóc đầu, đã kêu la hay rên rỉ trước nhất? Ai đã thở lại trước tiên hơi thở đã tắc nghẹn bấy nhiêu lâu? Ai đã ý thức được cái đau nhói của vết thương, đã nhìn thấy giòng máu rỉ xuống nhuộm đỏ làn da và áo quần? Thật là khó hiểu và khó tin rằng chúng tôi đã cùng hồi tỉnh, cùng sống lại, cùng nhận thức lại một lúc. Và cắt nghĩa làm sao cho đuợc sự thể trước đó ngay cả các em bé cũng đã im tiếng, không phản ứng, không động đậy trong những giây phút chúng tôi đã rơi vào cái trạng thái vô thức?






- Tất cả ngồi yên! Không nhúc nhích!


Tiếng thét lớn đã làm chúng tôi thức tỉnh hẳn, làm chúng tôi trở về với thực tế. Cùng với tiếng thét đó là hình ảnh một tên ăn cướp, tay ôm cây AK chỉa mũi súng về phía chúng tôi, mặt hầm


hầm dữ tợn, quay đi quay lại, sẵn sàng nhả đạn nếu có ai trong chúng tôi phản ứng. Tôi nhớ


như in trong tâm trí tên khốn nạn đó, tên công an biên phòng của chế độ mệnh danh là “của nhân dân, vì nhân dân”. Hắn từ đâu đột ngột xuất hiện trước mũi tầu, thân ở trần, bận có chiếc xà lỏn đen, hiển hiện như một bóng ma quỉ sau tấm kính nứt nẻ phía trước phòng điều hành của con tầu. Hắn đứng đó trước mắt chúng tôi, hai chân đất dạng ra, đầu gối hạ thấp như ở thế trung bình tấn, người cong xuống để nhìn chúng tôi qua tấm kính. Tôi nhìn hắn trong sự khinh bỉ trà trộn với sự đau buồn tê tái, sự chán nản dâng lên đầy ắp trong lòng. Xung quanh tôi là những bộ mặt kinh hãi của đàn bà và trẻ em.






- Ngồi yên! Nhúc nhích tao bắn nát sọ!


Lại một tiếng thét lớn, một lời hăm dọa hay cảnh cáo của tên ăn cướp khốn nạn đội lốt công an nhân dân, hay nói khác hơn tên công an nhân kiêm nghề ăn cướp.


Sau này khi được giãi từ nhà tù này sang nhà tù khác, chúng tôi thấy rõ bộ mặt thật của những tên công an này. Chúng chỉ là một lũ đầu trâu mặt ngựa dã man, tàn bạo, vô nhân đạo, chuyên môn ăn cướp, hiếp đáp, và làm tiền những kẻ bị bắt. Tôi chẳng thấy lời “bác Hồ đã dạy” rằng “công an là đầy tớ của nhân dân” đúng ở chỗ nào nữa! Hay là chúng đã, vì đồng tiền, phản bội cả bác Hồ vĩ đại của chúng rồi?






Thế rồi cánh cửa ca bin bật mở và một tên ăn cướp thứ hai nhẩy vào, mình ở trần, mặc chiếc quần bộ đội xanh lá cây tay lăm lăm chiếc lưỡi lê sáng loáng, chiếc lưỡi lê trước kia dùng để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào” nay dùng để đánh cướp nhân dân.






- Vàng đâu? Vàng để đâu, giấu đâu? Nói cho nhanh!


Cả phòng vẫn yên lặng. Dường như ai nấy đều thở dồn dập, thở vội vã, như thể sắp không còn không khí để mà thở. Hay lồng ngực đã bị đè nén bở một sức ép vô hình? Tim tôi đập liên hồi. Lo lắng hay hồi hộp? Sợ hãi hay kinh tởm? tôi không rõ nữa. Tôi chỉ biết nhìn, nhìn những hành


động của tên công an đó như nhìn một con quái vật trên màn ảnh hay một cảnh hồi hộp trong


một phim trinh thám. Nhưng tôi vẫn không thấy sợ hãi. Trong hoàn cảnh thực sự nguy biến đó, trong những giây phút mà cái gì cũng có thể xẩy đến bất chợt như một tràng tiểu liên nổ, một số người ngã xuống, máu tuôn ra lêng láng, tôi vẫn thản nhiên nhìn với một thái độ coi thường mọi chuyện, tôi vẫn bình tĩnh quan sát như thể người ta quan sát một hiện tượng khoa học lý thú. Tôi không biết phản ứng của những người xung quanh tôi ra sao vì tôi đã không nhìn họ, vì tôi đã bị thu hút bởi cái cảnh ăn cướp đang diển ra trước mắt, cảnh ăn cướp đang gay cấn diển tiến cách tôi chưa đầy ba thước. Vợ con tôi ngồi ngay bên tôi, tôi cũng không ngó ngàng tới. Thật là lạ lùng! Bây giờ ngồi thuật lại vụ cướp bóc đó, tôi thấy thật là quái dị. Cái gì đã đẩy tôi vào cách cư sử bật thường như thế?






- Vàng đâu? Tao hỏi vàng để đâu, giấu đâu? Sao không đứa nào trả lời!


Tên cướp vẫn hầm hầm nhìn chúng tôi với đôi mắt dữ tợn, như muốn cùng một lúc nuốt chững tất cả chúng tôi. Trong khi đó tên bộ hạ của hắn vẫn đứng trên mũi tầu, tay vẫn hăm hăm khẩu AK chĩa mũi về phía chúng tôi.






Đột nhiên một tràng súng lại nổ ròn làm tất cả chúng tôi giật nẩy mình, run lên vì sợ hãi, tràng súng nổ phá tan bầu không khí yên lặng trong phòng ca bin nơi hơn sáu chục anh em chúng tôi đang kinh hãi chưa biết phải làm gì, nói gì. Ai cũng nhìn ai để xem ai sẽ là người đầu tiên chỉ chỗ dấu vàng cho tên khốn nạn tay đang lăm lăm chiếc dao găm.


Tôi chẳng biết vàng dấu ở đâu! Tên chủ tầu đâu có nói cho tôi hay đâu? Vả lại, tôi cũng không biết tên chủ tầu là ai? Chúng tôi đã đóng vàng cho hắn qua trung gian của một người bạn của vợ tôi. Vợ tôi đã đứng ra lo hết mọi chuyện trong chuyến đi này của gia đình tôi. Tôi đã chỉ làm theo những gì nàng bảo tôi làm, riu ríu làm theo như đứa con làm theo mẹ. Vàng đâu? Tôi chỉ biết có một hộp vàng nay đang ở dưới lòng biển, nhưng nói ra chắc tôi sẽ ăn mũi dao găm của tên khốn nạn kia nên tôi đâu dám nói. Còn những người ra đi, ai chẳng mang theo một vài cây thủ thân. Nhưng họ dấu đâu, ở những chỗ kín đáo nào, làm sao tôi biết mà chỉ?


Có tiếng hớt hãi của một người con gái , một vài tiếng nói ồn ào, một số người nhúc nhích, cử động, “Chị ấy xỉu! Cứu chị ấy với!”






Chiếc cửa phiá sau ca bin bổng nhiên bật mở tung, cánh cửa đánh mạnh vào vách ván làm nên một tiếng “ẦM!” Ai nấy, quên cả người đàn bà đang xỉu, quay mặt về phiá cánh cửa vừa bật mở. Một tên ăn cướp thứ ba chĩa mũi AK về phía chúng tôi la lớn:


- Tao bắn chết hết tụi bay bây giờ! Ngồi yên!


Tất cả những sự kiện đó đã xẩy ra nhanh chóng, dồn dập trong bao nhiêu giây phút? Tôi chỉ có cái cảm giác của thời gian ngưng đọng lại, kéo dài lê thê. Tôi liên tưởng đến một đoạn phim quay chậm lại để quang cảnh được thấy rõ hơn. Thật là kỳ lạ! Vài phút thôi mà sao trong tiềm thức tôi nó lại là một khoảng thời gian dài, dài vô kể. Tôi vẫn còn cái cảm giác đè nặng lên lồng


ngực, lên tim hay lên tâm hồn tôi? Tôi có cái cảm giác của một kẻ đang chết lịm đi, đang nửa


mê nửa tỉnh mà vẫn thấy diễn ra trước mắt, mờ mờ ảo ảo, những sự thể khó hiểu và phi lý.


Phải! Vì lúc ấy tôi thấy cái gì cũng phi lý! Cuộc ra đi của chúng tôi phi lý, cuộc thất bại của chúng tôi phi lý, hành động của những tên ăn cướp này phi lý, cái ngất xỉu của người đàn bà phi lý. Và cuộc đời tôi cũng phi lý như vậy! Tôi có điên hay không mà lại thấy như thế? Tôi có còn lý trí hay không, còn biết suy luận hay không, tôi cũng chẳng biết. Sự ngột ngạt của căn phòng nhỏ, hoàn cảnh bất thường đã đưa chúng tôi vào một thế giới kỳ ảo của nửa giả nửa thật, của nửa có nhận thức nửa không. Các sự thể đã xẩy ra quá đột ngột và đã không cho tôi đủ thời gian để tìm hiểu, để phân tích, để phán đoán hay sao đó, hay là chỉ vì sau bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu toan tính, chúng tôi mới có được cái cơ may duy nhất để bỏ nước ra đi thì nay lại tan tành giấc mộng? Nay chỉ còn cái phủ phàng của một thực tế đắng cay!






- Tài công đâu? Tài công đâu rồi? Ra trình diện mau!


Vẫn những mệnh lệnh rơi vào khoảng im lặng của không gian. Vào cái lúc nhôn nháo đó, dường như không ai còn biết ai là ai nữa. Không người nào biết tài công đâu và anh tài công


cũng chẳng muốn cho mình là tài công nữa. Ai muốn nhận mình là người lái con tầu này toan


tính vượt biên? Ai cả gan dám nói lên sự thật đó? Nói lên để phải ở thêm dăm năm tù nữa khi mọi người khác đã được thả về rồi hay sao? Ai điên mà lại làm như thế?






Khi không thấy ai trả lời, tên hở trần bèn lục lọi khắp căn phòng điều hành của con tầu. Hắn mở các hộc tủ, nhìn vào, thò tay vào quờ quạng, như muốn nắm được một cái gì, một cái của quí mà hắn đang thèm thuồng, đang muốn bỏ túi. Tìm khắp nơi không thấy vàng đâu, tôi muốn nói đến vàng, nhiều vàng, hàng trăm lượng, vàng của chủ tầu, vàng đang được dấu kín nơi đâu không ai biết trừ hắn ra. Thật là vô phúc cho những tên ăn cướp này, vì sau đó tôi được biết chủ tầu đã không cùng đi trong chuyến đó, nên chẳng có vàng giấu đâu cả. Tên khốn nạn ăn cướp bực tức quay lại hét lớn tiếng






- Thợ máy đâu? Đứa nào là thợ máy?


- Dạ, có em đây!


Cả phòng ngạc nhiên và như muốn cười khi nghe tiếng trả lời ngây ngô của anh thợ máy. Nếu


đang ở một rạp hát thì chúng tôi hẳn đã phá lên cười! Nhưng trong cái hoàn cảnh bi ai đó, sự


trào phúng không còn tác dụng của nó nữa.






- Hải bàn đâu? Hải đồ đâu?


- Dạ, tầu đi đánh cá, không có hải bàn hải đồ.


- Mày giỡn mặt tao hả? Tao bắn bẻ sọ mày bây giờ!


Những lời đối đáp nhanh nhẹn như trong một vở bi kịch mà hai diển viên có tài diển xuất đặc biệt.






- Hải bàn đâu? Hải đồ đâu, mày có nói mau hay không?


- Dạ, em là thợ máy, em đâu có hay?


“Tên thợ máy quả tình ngoan cố!” tên hở trần có lẽ đã tự nhủ như thế. “ Thôi để về trụ sở tha hồ


mà truy hỏi nó! Vội gì! Bây giờ mình hãy làm những chuyện bây giờ!” Bước trở lại trước mặt chúng tôi, hắn cầm chiếc lưỡi lê quơ qua, quơ lại như để cảnh cáo rồi lại thét lên:






- Ai có vàng bạc gì, nộp hết ra đây!


Và khi thấy chưa ai chịu phản ứng gì hắn quát thêm:






- Muốn nhẹ tội thì đưa hết vàng bạc ra đây! Lè lẹ đi!


Cả phòng lục tục, cựa quậy sôn sao. Có những tiếng thì thầm nhỏ “đưa cho ông ấy rồi mình xin tha”, “không đưa thì rồi cũng mất” ... Những người ngồi gần tên ăn cướp bắt đầu cởi đồng hồ, tháo nhẫn dây chuyền vòng cổ và những gì quí báu khác đưa cho tên côn đồ. Hắn đưa con dao găm lên miệng cắn chặt giữa hai hàm răng nhe ra, tay lấy chiếc nón của một người trong chúng


tôi, rồi cầm hai tay hứng lấy những món đồ do chúng tôi trao. Sau đó hắn để con dao vào bao


dắt bên sườn, rồi nói đi nói lại:


- Về hậu cứ, cấm khai ra nghe chưa? Khai ra là toi mạng nghe rõ chưa?


Tôi chẳng có gì để đưa cho hắn ngoài chiếc đồng hồ cũ kỹ đã hai mươi lăm năm hiệu Cytas của Thụy Sĩ mà anh tôi đã cho tôi khi tôi đậu vào lớp sáu (sixième) đồng thời đậu được cái


bằng xéc ti phi ca (certificat) là cái bằng tiểu học. Chiếc đồng hồ ấy mua ở Hải Phòng hai năm trước khi gia đình tôi di cư vào nam, giá có trăm bạc thế mà tốt vô cùng. Tôi đã thương yêu nó vì nó là vật kỷ niệm. Tôi còn nhớ rõ chiếc đồng hồ mạ vàng, có mặt màu đen, có kim chỉ và số màu vàng. Những năm đầu tôi đeo nó với một sợi dây bằng da, dưới đồng hồ cũng có lót một miếng da cắt tròn để thấm mồ hôi tay.


Đối với những năm năm mươi, và nhất là đối vớ một cậu bé học sinh đệ thất, nó đã là một vật


quí giá vô cùng. Sau này vì những kỷ niệm chồng chất thêm lên chiếc đồng hồ đó, tôi lại càng coi nó là một vật quí báu hơn nữa. Nó đã là một phần đời tôi, một phần linh hồn đi kèm theo tôi trong những năm đẹp nhất của cuộc đời học sinh và sinh viên, sau đó là những năm hạnh phúc, khi tôi làm thầy giáo tại Sadec và Vĩnh Long. Nó đã theo tôi như hình với bóng qua những nẻo quê hương mà tôi đã may mắn đi qua khi đi làm chủ tịch các hội đồng thi tú tài, trung học phổ thông và thậm chí cả thi vào đệ tam và đệ thất. Nó và tôi đã liên kết với nhau trong cả một cuộc đời đi học, đi thi và đi dạy.






Ngày anh tôi đi trận về, từ Điện Biên Phủ và đã bị thương, anh tôi đã không quên lời hứa, mua sẵn nó cho tôi và nhân dịp về thăm nhà anh đã cho tôi làm phần thưởng. Tôi đã cảm thấy sung sưóng biết bao vì tôi đã nghĩ rằng anh bị thương thì chắc đã quên lời hứa rồi. Đệ thất chẳng là gì nhưng đối với cậu bé mười hai tuổi vừa thoát bậc tiểu học bước lên trung học thì nó cũng là một cái gì quan trọng để cho cậu bé cảm thấy hơi oai oai.


Hơn nữa không phải ai thi cũng đậu, nhất là vào cái thời kỳ mà đi học không là quyền lợi của người học sinh. Ngày còn học lớp nhất, tôi đã nhìn những anh chị ở đệ thất, đệ lục để thèm muốn có ngày tôi cũng được bước chân vào sân trường trung học. Và tôi cũng đã ao ước đuợc đeo một cái đồng hồ trên tay để cho ra vẽ là người lớn, để cho các em ở tiểu học nhìn tôi mà thèm, mà muốn, mà ước mơ như tôi đã ước mơ.






Cho đến ngày đồng hồ tràn ngập Saigon, những chiếc đồng hồ tự động, không còn phải lên dây cót, đồng hồ có cả ngày tháng, có cả tiếng chuông reo, tôi vẫn không giống ai đeo trên cổ tay chiếc đồng hồ cổ lỗ sĩ ấy. Tôi cũng đã mua một chiếc đồng hồ mới tự động, có ngày tháng và tiếng chuông, nhưng tôi vẫn ưa chiếc Cytas mặc dù cái vỏ vàng nay đã bạc trắng hếu, chiếc đồng hồ thuở nào đã làm tôi sung sướng đắm đuối nhìn những hàng chứ 17 jewels, Incabloc, Swiss Made ở mặt trước, và Waterproof, Antimagnetic ở mặt sau.


Sau ngày Việt cộng tràn vào miền nam, tôi đã phải bán chiếc đồng hồ tự động vì nó có giá và giữ lại chiếc Cytas vì có bán cũng chẳng ai mua, hay có mua thì cũng chẳng được bao nhiêu. Và sau lần bị bắt đó tôi đã mất nó. Tôi nghĩ tên khốn nạn kia đem nó về rồi cũng dục thôi, vì bán cũng không ai mua mà đeo thì không ai muốn đeo.


Nhưng tôi vẫn phải tháo nó ra và đưa cho hắn để giống mọi người, để có một cái gì “nộp cho tên ăn cướp”. Lúc đó tôi chẳng nghĩ gì, tôi đã chỉ làm một hành động phản xạ. Sau này tôi nửa


tiếc nửa không, tiếc vì nó là một phần quá khứ, không là vì đã nhiều lần tôi muốn vứt nó đi mà không đành lòng. Bao nhiêu lần tôi đã đem nó đi sửa, và tiền sửa còn nhiều hơn tiền mua. Tôi muốn dứt khoát với nó mà không được. Bạn bè tôi đeo nào Omega, Movado, nào Rolex, Seiko mà trên tay tôi vẫn là chiếc Cytas quái dị. Họ đã bao lần phá lên cười vì tôi quên lên dây, chiếc đông hồ chết từ lúc nào mà không hay, và khi nhìn giờ tôi đã không có được giờ chính xác.






Thế rồi chiếc tàu của chúng tôi bị chằng dây xích kéo về Vàm Láng. Hai tên công an biên phòng vẻ mặt đằng đằng sát khí ở lại trên tầu , tay ôm cây AK chĩa về phía chúng tôi. Một tên hỏi giỡn tên thợ máy






- Đù má, đi đánh cá mà dẫn vợ con đi theo đùm đề vậy nà? Bộ tính đi đánh cá rồi đi luôn hay sao?


Tên thợ máy không kém khôi hài






- Dạ, bị đi xa không mang vợ con theo sợ nhớ!


Những tên thợ máy đi đã không tốn tiền lại còn mang theo gia đình, bà con bạn bè, một lũ thanh niên mất dạy. Trong lúc nước không có mà uống, lúc mà hầm tầu còn ghẹt thở vì đóng kín mà máy tầu lại phun ra khói khét lẹt, cay cả mắt và độ nóng trong hầm tưởng như không còn chịu nổi, chúng đã lấy nước xối lên đầu cho mát.


Từ lúc ghe chúng tôi hư máy trôi lềnh bềnh đẽ rồi sáng hôm đó chúng tôi bị công an thấy và chặn bắt đưa về bến Vàm Láng, chúng tôi mới chỉ đi được có mấy tiếng đồng hồ! Thật là cái số


ăn mày!






Vàm Láng, nơi hàng ngàn người vượt biển đã bị bắt! Vàm Láng là nơi cửa biển khét tiếng vì bọn công an biên phòng hắc ám nhất, khốn nạn nhất, bất lương nhất. Hàng trăm ghe qua đó đã bị chặn vì bọn công an giả ăn tiền của chủ tầu để cho đi, nhưng sau đó phản phé bắt lại để lấy công với chính quyền tỉnh Gò Công, đồng thời cướp bóc người ra đi. Nói đến Vàm Láng, dân vượt biển thấy nổi da gà, sởn tóc gáy!






Tuy nhiên bọn công an cũng rất mưu mô quỉ quyệt. Chúng cho đi thoát một số tầu với mục đích làm tiền, người tổ chức vượt biên thấy có ghe đi thoát vẫn hy vọng là làm ăn với chúng được, nhất là khi nghe chúng nói chắc như bắp rằng chúng sẽ cho đi thoát. Thế rồi kẻ đi vượt biển cứ xả thân ra đi vào chỗ chết, như thể những con thiêu thân lăn xả vào ánh đèn dầu.


Những ngày ở tù tại Mỹ Tho tôi đã được nghe nhiều mẩu chuyện ghê hồn về những vụ săn đuổi tầu của những người vượt biển tại Vàm Láng. Cửa biển Vàm Láng rộng hơn cây số, hai bên bờ sông lại có nhiều ngánh nhỏ, ghe tuần tiểu của công an biên phòng thường nấp ở những ngõ ngách đó chờ tầu vượt biển đi ra là đuổi theo chặn bắt. Chúng trang bị vô tuyến điện và ống nhòm và luôn luôn nhận được những tín hiệu bên trong sông báo cho chúng hay những tầu đang từ sông đi ra. Mà dù không được điện báo trước, chúng cũng vẫn thừa sức đuổi theo mà chặn lại. Khi đuổi theo, chúng dùng tiểu liên và đôi khi cả đại liên bắn theo để đe dọa và làm mất tinh thần kẻ ra đi và buộc họ phải dừng lại. Do vậy mà tỷ lệ bị bắt rất cao, mười tàu ra đi thì hơn chín tàu bị bắt lại. Chỉ những tàu lớn có máy sáu lốc trở lên mới có cơ thoát. Nhiều người bị trúng đạn chết tức tưởi và bị chôn ngay tại bến Vàm Cống, tại một bãi đất hoang bên cạnh khu quân sự. Bon công an không cho ngườì nhà xin xác về chôn, đấy cũng là một tội ác tầy trời của chúng đối với những kẻ bất hạnh chẳng may đã chết trên con đường đi tìm tự do.






Chiếc tầu của chúng tôi được kéo vào đến bến Vàm Láng lúc mười giờ. Tất cả mọi người đều phải ở lại trên tầu cho đến khi bọn công an cho phép xuống. Trời nóng gay gắt, không khí thật là ngộp thở. Những chiếc tầu lớn đã bị tịch thu trong những chuyến vượt biên trước đậu dài dọc theo bến. Xa xa những dân chài điạ phương đứng trên những ghe nhỏ nhìn chúng tôi, vì tò mò hay vì thương hại? Bao nhiêu lần trước đó họ đã đứng nhìn những kẻ đi vượt biển bị bắt như thế này rồi? Tôi chắc họ không thể hiểu tại sao chúng tôi lại bỏ nước trốn đi như vầy. Họ là những người mộc mặc, sống ngày hai bữa cơm cá kho hay canh chua, không có nhu cầu gì, không suy tư, không đòi hỏi, sống một cuộc sống giản dị. Chế độ nào thì họ cũng sống được, quốc gia tự do hay xã hội chủ nghĩa. Lắm khi tôi cũng ước mơ được sống như họ, sống một cuộc sống bình dị, đơn giản, không một lo âu, không một ưu phiền, sống từng ngày một, chẳng ý thức gì đến tương lai. Nhưng tôi đã sinh ra trong một môi trường khác họ. Xã hội, gia đình, và nhất là giáo dục đã nhét vào trong đầu tôi những tư tưởng của con người tiến bộ, như tự do bình đẳng, bác ái, như hạnh phúc, tương lai, ước vọng, như nhu cầu của trí tuệ, mối liên hệ giữa con người và con người, và nhiệm vụ của cá nhân trong một xã hội tân tiến. Càng biết nhiều càng khổ, tôi ước gì được “ngu xi hưởng thái bình” như câu châm ngôn đã dạy.






Và giờ đây, trên xứ Kămpuchia xa lạ, cũng lại cảnh bắt bớ, cũng lại công an vẻ mặt hầm hầm dữ tợn, tay lăm lăm khẩu AK hay B40 chiã mũi súng về phía chúng tôi, la hét lớn tiếng. Chỉ có một điều khác là họ nói một thứ tiếng mà tôi không hiểu, một ngôn ngữ xa lạ nhưng tôi đã quen,


quen với những âm thanh líu lo như đang ca hát. Có lẽ vì không hiểu những gì họ nói nên tôi cũng bớt thấy khó chịu, bớt thấy buồn, bớt thấy cay đắng.






Số người bị chặn trước cổng đốn càng ngày càng nhiều, có thể lên đến bẩy tám chục người. Tôi không còn thấy Bác Lũy đâu nữa, có lẽ bác đang ngồi chờ bị xét hỏi bên trong. Tôi không thấy Huân và cả cháu bé tôi cũng không thấy. Có thể cháu bé đi sau, thấy đông ngườì bị bắt nên Kết đã quay đầu trở lại. Như thế thì cháu đã thoát, tuy không đi được đến biên giới. Còn Hinh thì đã đi cùng với tôi. Tôi thấy rõ lúc tên Miên ngồi sau chiếc honda đam sau khi bắt tôi quay trở lại còn chồm tới kề sát bên Hinh la lớn một điều gì và sau đó có tiếng nổ tạch tạch tạch, chiếc honda còn phóng tới, biến mất dạng sau lớp bụi mù bay lên từ con đường đất đỏ. Bây giờ Hinh đâu tôi chẳng biết, vì khi đến được trại NW9 tôi cố ý đi tìm Hinh mà không thấy.


Tôi đến cổng đồn thì những tên lính Miên đang đứng ngang đường chắn lối qua lại, không cho ai đi ngược trở về Xi xô phon. Bên kia đường và xa hơn trên những gò đất, dân địa phương bu lại nhìn bụ bắt bớ này. Sau này tôi đươc biết hàng ngày có những vụ chặn bắt như thế, vừa bắt vượt biên lẫn bắt những kẻ đi buôn lậu. Vì Xi xô phon là cửa ngõ lên biên giới, nên con buôn lũ lượt đi đến biên giới mua hàng hóa đem về bán lại cho những người mua từ Bát Tam Băng lên. Việc chuyển vận hàng hoá đều được thực hiện từng chặng như vậy cho đến Nam Vang, Châu Đốc và cả Saigon nữa, mỗi chặng đều do những đường dây con buôn địa phương đảm nhận. Sự mua đi bán lại được tổ chức rất qui mô và theo đúng qui luật như thế, không ai có thể đốt chặng đi buôn thẳng từ biên giới về Nam Vang hay Châu Đốc.






Những ngày tôi ở NW9, tôi được biết nhiều dân Miên tị nạn ở trại Khao I Đăng đã trốn trại đi buôn lậu và bị lính Thái bắn chết khi tìm cách trở về trại. Vào năm một ngàn chín trăm tám mươi mốt, trại Khao I Đăng tập trung khoảng hai chục ngàn người Miên tị nạn từ thời Khờ me đỏ và nhiều dân Miên đi tìm tự do phải nằm chờ ở đó vài ba năm, phần lớn những người khác cứ phải ở lại đó chờ ngày được hồi hương.


Tôi chưa được đặt chân đến Khao I Đăng nhưng những bác sĩ của Hồng Thập Tự Quốc Tế đã nói với tôi rằng Khao I Đăng được tổ chức thành một thành phố nhỏ, có chợ búa, có cửa tiệm này kia, có rạp hát, trường học. Nhiều đứa trẻ được sinh ra và lớn lên ở đó, nhiều thanh niên thanh nữ lấy nhau thành vợ thành chồng. Nhiều gia đình làm ăn buôn bán để kiếm sống vì tiền trợ giúp của Uỷ Ban Cứ Trợ Tị Nạn Quốc tế không đủ. Họ làm ăn buôn bán nhỏ, như mở quán ăn quán nước tiệm may, nhưng những tay buôn có máu giang hồ thường đêm đến lẻn chui rào kẽm gai ra khỏi trại, họ đi băng rừng đến những làng Thái gần đó mua hàng đem trở về đất Miên bán. Họ đi như thế bốn năm ngày, rồi lại chờ đêm đến chui rào về trại tị nạn. Lính Thái biết rõ sự thể này và hoặc nhắm mắt làm ngơ, hoặc đứng ra thông đồng với dân Miên để tổ chức những vụ làm ăn lớn.


Vô phúc cho những tên Miên đi buôn đó, lúc chui rào trở vào mà gặp tên lính Thái say rượu hay thù ghét người Miên thì bị súng đại liên từ những chòi canh nã đạn vào thân nằm chết không kịp ngáp. Vả lại, lúc đó bộ đội Việt đôi khi truy kích quân Khờ me đỏ có khi đến tận gần các trại tị nạn và nã đại bác hay mọoc chê (mortier) tận cửa trại.






Những đêm ngủ không được vì nhớ quê hương, nhớ gia đình, tôi đã nằm đếm những tiếng súng nổ ầm ầm cho đến sáng để liên tưởng đến những ngày chinh chiến trên quê hương thân yêu. Vì lý do an ninh, các trại tị nạn ở vùng biên giới này được sự bảo vệ của lực lượng thủy quân lục chiến, là binh chủng thiện chiến nhất của quân đội hoàng gia Thái. Chính phủ Thái đã nhiều lần tố cáo sự vi phạm biên giới của bộ đội Việt Nam khi truy kích sang lãnh thổ Thái, nhiều khi gây thiệt hại cho các làng Thái và các trung tâm tị nạn.


Một điều đáng ghi nhận là trong số quân Thái trấn đóng ở vùng đó có nhiều phần tử tham nhũng, làm ăn bất chính, và lạm quyền. Họ coi dân tị nạn như tù nhân và họ có những hành động bất chính như cướp bóc tiền bạc, tịch thu của cải và hãm hiếp đàn bà con gái. Nhiều sĩ quan Thái còn đứng đầu những tổ chức buôn lậu nữa.Trong khi đó thì những phe phái khác nhau trong mặt trận quốc gia giải phóng Kămpuchia và lực lượng Kămpuchia dân chủ, tức lực


lượng Khờ me đỏ, cũng tranh nhau tổ chức những đường giây buôn lậu sang đất Miên và sang


cả Việt nam.


Tháng bảy năm một ngàn chín trăm tám mươi mốt, tôi đọc trong tờ Far Eastern Economic Review xuất bản tại Tân Gia Ba, tin một sĩ quan lãnh tụ của mặt trận quốc gia giải phóng Kămpuchia đã bị phục kích bắn chết và tờ báo đưa ra giả thuyết rằng đó là một vụ thanh toán nhau giữa những đường giây buôn lậu ở biên giớ Thái-Miên.


Hoạt động buôn lậu đó được chính quyền các nước Thái, Miên và Việt nam làm ngơ nếu không muốn nói là đồng loã vì cả ba nước đều có lợi, hàng hóa mà Việt nam không trực tiếp nhập cảng được vào cái thời gian nhà nước áp dụng chính sách khắc khổ đó được lén lút đưa vào trong nước qua những đường giây buôn lậu. Hình ảnh này làm tôi liên tưởng đến những tổ chức buôn lậu của người dân bát-cơ (basque) qua dãy núi bi-rê-nê (Pyrénées) ở miền nam nước Pháp trong thời kỳ đệ nhị thế chiến để đưa hàng hoá từ Tây ban nha sang nước Pháp đang bị quân Đức Quốc Xã chiếm đóng.














Tôi vừa đến cổng đồn thì một tên lính Miên hết lên một câu gì mà tôi nghe có chữ “Việt nam” trong đó. Tôi đoán rằng nó muốn hỏi tôi có phải là người Việt hay không, và tôi gật đầu. Nó chỉ tay về phía trong đồn bảo tôi đi vào. Tôi lững thững dắt chiếc xe đạp có cái bao bố tổ mẹ cột đằng sau, đi vào con đường đất đỏ dài độ trăm thước dẫn đến một căn nhà tôn bên trong.


Tuy gọi là đồn vì do quân lính điều hành, nhưng thực ra đấy chỉ là một một trạm kiểm soát nhỏ trên đường, không có quân lính trấn đóng. Trong đồn chỉ có hai ba căn nhà tôn nhỏ nằm giữa cánh đồng hoang, cỏ dại khô cháy. Tôi chỉ thấy vỏn vẹn có chừng một chục anh bộ đội đi tới đi lui.


Tôi đi qua một đám đông khoảng hai chục người Miên ngồi bó gối dưới một gốc cây ngay gần cổng đồn, và thấy lờ mờ bóng dáng Lon trong số đó. Họ là những kẽ biết nói tiếng Miên và có giấy tờ tùy thân để chứng minh họ là những con buôn chân chính và do đó sẽ được thả về. Tôi không nói được tiếng Miên mà cũng chẳng có giấy tờ gì trên mình, và như thế sẽ bị dẫn giải về Saigon nằm khám Chí Hòa.






Lại tù tội, lại khốn khổ cho vợ tôi phải đi thăm nuôi tôi. Vợ tôi bản chất là một tiểu thư, không thích phục vụ chồng, càng không thích phải lăn lộn đi thăm nuôi tôi, không những phải lễ mễ sách nặng đi xa mà còn lại phải đối đầu với bọn công an mất dạy. Lần tôi đi tù trước, sau khi tôi được thả về, tôi đã phải nghe nàng kể lễ có tới mấy chục lần về cái công khó nhọc mà nàng đã phải hy sinh làm cho tôi. Do đó, trong đầu tôi nẩy ngay ra ý nghỉ là phải chạy trốn, dù chết cũng phải chạy trốn, không thể lê thân vào tù một lần nữa được. Từ lúc ấy trở đi trong đầu tôi chỉ còn cái ý nghĩ đó, chạy trốn khỏi cái đồn khốn kiếp này để trở về Nam Vang tìm đường về lại Saigon. Tôi không còn muốn đi nữa, tôi chỉ còn muốn trở về sống yên ổn bên gia đình, dù có phải chạy xích lô cho đến mãn đời. Hơn nữa tôi không biết con tôi đang ở đâu, có chuyện gì đã xẩy ra cho cháu hay không. Tôi đang phải lo cho cả thân tôi lẫn thân cháu bé. Thật là khốn khổ cho tôi!






Tôi dựng chiếc xe đạp sát tường nơi đã có cả vài chục chiếc khác và trước khi bước vào căn nhà tôn, tôi ngoái cổ nhìn về phía cổng. Tôi thấy Lon đã được thả và anh đang nói gì với một người lính Miên, tay chỉ chỏ về phía tôi. Tôi đã hy vọng rằng anh sẽ tìm cách mua chuộc cho tôi ra, vì tôi đã nghe nói chỉ cần đưa một chỉ vàng là lính Miên sẽ thả những kẻ vượt biên như tôi. Lính Miên không quan tâm đến người Việt vuợt biên và nhiều đàn bà con nít Việt bị bắt lúc xét hỏi nói rằng mình muốn “tâu Xiêm” là nó thả ra cho đi Xiêm, tức là Thái Lan.


Lúc đó chắc khoảng ba bốn giờ chiều, trời nắng nóng như đổ lửa. Tôi bước vào căn nhà tôn nhỏ dùng làm văn phòng đồn trong đó có ba chiếc bàn và năm bẩy chiếc ghế. Ba tên lính Miên trẻ măng, tuổi chừng mười tám hai mươi, ngồi phanh ngực trước bàn đang chất vấn ba tên Miên đi buôn và đang xem xét giấy tờ của họ. Sát bên tường bảy tám người vừa Miên vừa Việt đang đừng chờ đến lượt mình để bị điều tra. Tôi thấy mấy anh bộ đội Miên ăn nói cũng không phách lối nên cũng hơi yên bụng. Trong căn nhà tôn không khí ngột ngạt khó thở và nhiệt độ chắc còn cao hơn bên ngoài trời. Bốn cánh cửa sổ nhỏ mở toang hoang ra mà cũng không hơn gì mấy vì trời im gió lặng. Phía sau phòng bên góc trái, nơi có một cửa ra vào nhỏ bề ngang chừng tám mươi phân, tôi thấy một tên lính Miên nữa đứng trấn gác, trên vai có sợi dây đeo


khẩu AK cầm trong tay. Có lẽ vì trời nóng nên tôi thấy hắn có vẻ như buồn ngủ, không ngó ngàng gì đến những sự việc xẩy ra xung quanh.






Sau khi xét xong giấy tờ của những tên con buôn Miên, những tên lính trao trả lại cho họ, nói dăm ba câu gì đó rồi chỉ tay về phía cửa như để bảo họ ra về. Thế rồi họ ngồi đó nghỉ dăm ba phút, vấn thuốc hút phì phèo nói chuyện với nhau trong khi chúng tôi cứ đứng đó chờ. Một lúc sau một trong ba tên lính đứng dậy bước tới cửa sau phòng nơi có anh lính ngủ gật đang đứng gác, đi ra ngoài.






Tôi thấy người thanh niên đứng trước tôi có nước da trắng hơn những người kia nên mạnh mồm hỏi khẽ “Việt Nam hả”. Anh ta gật đầu. “Đi với ai?” tôi hỏi tiếp. “Một mình” anh ta đáp. “Còn ai người Việt nữa không?” “Nhiều lắm, ngồi ngoài kia.” Rồi anh hất đầu về phiá cửa ra sau căn nhà tôn. Tôi thấy yên bụng hơn một chút. Ít ra cũng còn những người Việt cùng chung một số phận như tôi nơi xứ lạ quê người này! Không biết giờ này bác Lũy đâu? tôi phân vân. Có thể vì thấy bác già những tên lính Miên này đã thả bác ra rồi? Hay bác đã được đem đi đâu?






Hai tên lính Miên còn ngồi ở bàn lớn tiếng gọi chúng tôi lại. Hai người đứng đầu dẫy bước tới gần bàn, rút giấy ra trình rồi lí nhí nói câu gì. Hai tên lính phỏng vấn hỏi dăm ba câu và được trả lời xuôi xẻ, rồi tôi thấy một người con buôn rút một mớ tiền ra, đếm lấy một phần đưa cho tên lính. Tên này cầm tiền, lấy con dấu đóng cái ình lên tờ giấy, đưa lại cho người đi buôn, rồi chỉ ra cửa. Người đi buôn ríu ríu bước tới cửa đi ra ngoài. Bên bàn bên cạnh tôi thấy tên lính hỏi vặn kẻ bị bắt nhiều câu mà không thấy có câu trả lời, rồi một lời nói lớn tiếng, một ngón tay chỉ về phiá cửa sau, tên con buôn vẻ mặt iủ xìu đi về phiá tên lính gác nơi đó. Có tiếng nói của tên lính buồn ngủ này và tôi thấy tên con buôn dừng lại đứng đó chờ.






Chừng hai mươi phút sau tôi đã đứng gần đầu hàng, và sau tôi đã có thêm cả chục người khác. Người thanh niên đứng trước đã bị gọi lên bàn cùng với một tên Miên. Tôi chăm chú nhìn xem cuộc tra vấn sẽ xẩy ra như thế nào để còn tìm cách mà liệu, lát nữa đây khi đến phiên mình. Tôi cảm thấy hơi bồn chồn và mồ hôi tiếp tục chảy nhể nhại trên mặt, trên cổ tôi mà tôi không có khăn lau. Tôi lấy tay quệt cho thấy đỡ khó chịu, mắt ráng nhìn xem tên lính Miên đang hỏi những gì? Tôi thấy người thanh niên Việt lẳng lặng đi đến trước chiếc bàn, vừa đến nơi thì tên Miên nhìn anh một cái rồi hỏi “Việt Nam?”, người thanh niên gật đầu. Tên lính lại hỏi “tâu Xiêm?”, người thanh niên lại gật đầu. Tên lính bèn chỉ chiếc cửa ra phiá sau, nơi đã có ba bốn người đứng chờ, theo tôi đoán để được giải đi nơi cầm tù. Khi tôi được gọi lên thì, cũng giống người thanh niên Việt trước tôi, tên lính Miên hỏi tôi có phải là người Việt không và có phải tôi tính đi sang Thái Lan không. Tôi đều gật đầu và bị chỉ đi ra cửa sau.






Khi tôi vừa đến cửa thì cũng là lúc tên lính canh quyết định đưa chúng tôi đi ra phía sau căn nhà tôn, theo một con đường đất dài khoảng hai ba trăm thước, đến một căn nhà tôn khác có hàng rào kẽm gai xung quanh. Cả khu vực này là đồng không mông quanh, cỏ cây xác sơ vì nắng cháy, không có bóng nhà cửa hay dân ở. Xa xa có những gò đất cao cả thước không biết có phải là nơi chôn người chết hay không. Khi chúng tôi đến gần tôi thấy một số người bị bắt đang ngồi bó gối trong vòng đai kẽm gai phiá sau căn nhà và một tên lính trẻ măng, tuổi chừng mười lăm, mười sáu đang cầm khẩu AK canh gác. Tên lính bé con này thấy bọn chúng tôi đến, bèn ra kéo con ngựa gổ có chằng kẽm gai chắn ngang cổng, cho chúng tôi vào.


Tên lính dẫn độ chúng tôi đến nơi đấy đã quay trở về căn nhà dùng làm văn phòng. Hắn bước nhanh như thể muốn tránh cái nắng ghê hồn của xế chiều, vì tôi nghĩ lúc đó chắc cũng đã phải bốn năm giờ rồi.


Tên lính bé con đang đứng đối diện với chúng tôi, lưng quay về phiá đám tù binh thì bất chợt một tên Miên từ đằng sau phóng tới, nhanh như cắt xô tên lính sang một bên rồi thoát ra cửa, chạy như gió băng qua cánh đồng phía sau đồn. Tên lính Miên ngã chúi người, loạng choạng một lúc, rồi mới hoàn hồn đứng dậy chạy đuổi theo tên tù kia và có tiềng AK nổ ròn phá tan bầu không khí yên tĩnh nơi cánh đồng hoang ấy. Tôi thấy trong giây phút đó, cả bọn tù bên trong lẫn bên ngoài cùng lao nhao, rồi như trong một thế giới kỳ ảo, tôi thấy rất nhanh, bốn năm bóng


người phóng đi, rồi cụp người xuống chạy đi nhiều phía khác nhau. Tiếng AK lại nổ thành tràng dài.


Trong khoảng khắc tôi lấy tay thúc vào lưng người thanh niên làm dấu chạy trốn theo, và trong cái quyết định nhanh chóng vì đã có sự toan tính trước, tôi cũng phóng người chạy. Lúc đó tôi chỉ biết cắm cổ chạy tới, không còn hồn viá đâu để mà xem xem người thanh niên kia có chạy theo tôi hay không. Tiếng súng nổ, tiếng đạn bay vèo vèo bên tai, tiếng la hét của những tên lính Miên chạy theo sau, và tiếng chân phình phịch của tôi chạy như chối chết trên đám cỏ dại khô làm cho tôi có cái cảm giác mình đang đi vào một thế giới vô hình, cái thế giới của nửa mê nữa tỉnh, của tiềm thức. Vào cái lúc ấy, dường như tôi không còn biết gì hơn là cong lưng xuống mà chạy, chỉ còn chạy, chạy thục mạng, và nếu có viên đạn nào ghim vào vai tôi, vào cánh tay tôi chắc hẳn tôi cũng không hay. Tôi lảo đảo suýt vấp té mấy lần, đầu óc quay cuồng có một ý nghĩ là chạy, cố chạy cho thoát, thoát bằng mọi giá, kể cả nếu phải chết ngay nơi đó, chết ngã gục xuống nơi miếng đất khô cằn xứ lạ quê người.






Lạ thật! trong cái lúc nguy cơ đến tính mạng như thế mà tôi không thấy sợ hãi, tôi không thấy run, và cũng chẳng thấy mệt, thấy nóng bức. Dường như tôi chỉ thấy tinh thần căng thẳng và hơi thở hơi nhanh hơn bình thường. Tôi cứ chạy, chạy vòng những gò đất mà tôi đã thấy lúc trước, quanh những ụ đất không cao lắm, cứ thế chạy vắt giò lên cổ, không còn biết trời đất gì nữa. Sau tôi, những tên lính có đuổi theo không, tôi chẳng biết. Những tên tù trốn chạy kia, có đứa nào chạy cùng hướng với tôi không, tôi chẳng hay. Tôi đang chạy tới nơi nào đây, tôi cũng không biết nốt.






Thế rồi đến lúc tôi bổng ý thức rằng không còn tiếng súng nổ, tiếng đạn bay, và tiếng la hét của những tên lính đang đuổi theo nữa. Những tiếng đó đã ngưng từ hồi nào? Một hai phút rồi hay mới một hai giây đây? Tôi chỉ biết trong lòng tôi thấy yên hơn một chút, tôi đã tạm thoát chết, tạm thoát cái cảnh tù đầy. Trong giây lát, tôi bỗng cảm thấy mình may mắn, mình đã được Trời Phật phù hộ, trước là cho mình cái cơ hội thoát thân và sau là thoát được mà chưa chết. Rồi tôi chạy chậm lại, tôi bắt đầu thở dốc, bắt đầu cảm thấy mệt. Ngoái cổ nhìn lại, tôi thấy tôi đã xa đồn được cũng phải năm trăm thước, xung quanh tôi chỉ là im lặng và mồ hôi vã ra ướt mặt tôi đầm đìa, áo tôi ướt sũng.


Tôi bổng nghe xa xa phiá trên con lộ tiếng xe gắn máy nổ khe khẽ rồi lớn dần, lớn dần. Có phải hai tên bộ đội chạy honda đi tìm chúng tôi hay không, tôi không biết. Tôi thấy lại nguy đến nơi và muốn chạy sâu vào bên trong kia, nhưng chân tôi không cho. Tôi đã không còn sức để mà chạy thêm nữa. Tôi bèn nằm bẹt xuông phía sau một gò đất cao, để mà run rẩy như một con gà bị cắt cổ đang giẫy chết, tim tôi đập loạn đả trong lồng ngực, và tôi bắt đầu thấy cơn sợ dâng lên trong tâm trí. Sợ gì? Sợ bị bắn chết? sợ bị bắt lại? Hay sợ vì lúc nãy mình sém chết? Tôi


nghe tiếng honda xa dần rồi bổng nhiên những tiếng súng tiểu liên nổ ròn rất xa, nổ hàng tràng


dài trong một hai phút không chừng. Tim tôi dường như ngừng đập, phổi tôi dường như ngưng thở, tôi vẫn nằm yên một nơi đó, miệng khấn Trời Phật cho tôi còn được sống, sống để còn đi tìm đứa con tôi mà lúc đó tôi không biết đang ở đâu, sống hay chết.






Tôi đã nằm nơi đó bao lâu? Nửa tiếng hay một tiếng? Tôi chỉ biết khi tôi thấy xung quanh tôi đã yên tĩnh từ khá lâu, khi tôi ngửng đầu lên nhìn xung quanh mà chẳng thấy gì đáng sợ nữa thì tôi đã hoàn hồn, tôi ngồi dậy dăm ba phút thở nhẹ nhõm, thở hít hà cái không khí tự do, tự do vì tôi đả suýt lại phải đi tù, mà lần này sẽ là đi tù lâu, đi mút mùa vì tôi đã mang cái tội là đã ngoan cố, đã vẫn còn muốn bỏ nước trốn đi. Thế rồi tôi đứng dậy nhìn lấm la lấm lét xung quanh trước khi bước đi. Bấy giờ tôi mới thấy khát nước, tôi mới ý thức được rằng suốt từ năm sáu tiếng đồng hồ tôi chưa được giọt nước nào vào trong cổ, trong họng. Nhưng tìm đâu ra nước mà uống? Tôi cứ lầm lũi mà bước đi, theo huớng trở lại thị trấn Xi xô phôn, trở lại cái chợ trời lúc trưa nay chúng tôi dừng lại ăn cơm. Tôi đã có ý định đêm nay sẽ nằm trốn dưới cái sạp gổ nơi Lon và thằng em anh nằm ngủ trưa sau khi ăn, để rồi sáng mai tìm đường đi về Bát Tam Băng tìm Lon, nhờ anh giúp đỡ sao cho tôi liên lạc lại được với Hai Học và trở về Saigon. Tôi đã phác hoạ trong đầu những gì tôi phải làm trong những ngày tới, nhất là ngày mai khi tôi phải làm sao để có thể trở về Bát Tam Băng được.


Bấy giờ tôi mới nhớ lại rằng tôi đâu có tiền Miên để mà tiêu, để mà mua thức ăn thức uống hay để mà trả tiền xe? Nhưng tôi vẫn bình tĩnh thò tay vào túi quần bên trái sờ mó vào cái bó tiền Việt mà tôi đã còn giữ lại để phòng thân, mớ tiền còn lại mà may phúc tôi đã không dại dột đưa cho Hai Học khi còn ở Nam Vang. Và tôi bổng cảm thấy yên thân hơn, may mắn hơn, và hăng hái hơn. Vả lại tôi vẫn còn cái nhẫn một chỉ mà tôi đeo ở ngón chân giữa bên phải, ngoài có cuốn băng keo để giả như ngón chân bị thương tích nhưng kỳ thực là để giấu cái nhẫn quí báu đó. Tôi đã quyết định chỉ khi đến đường cùng tôi mới lấy nó ra dùng, do đó trong lúc này tôi chưa muốn đả động đến nó.


Trời đã về chiều, nắng không còn gay gắt nữa nhưng cơn nóng vẫn còn khiếp khủng. Tôi đã đi cả nửa tiếng đồng hồ băng qua những cánh đồng mênh mông bỏ hoang, gắng đi song song với con lộ đề khỏi bị lạc. Trên con đường thỉnh thoảng có một chiếc xe đạp qua lại.






Rồi tôi về đến cái chợ trời ở Xoay, giờ đã vắng tanh, những sạp hàng đã dọn về trống trơn, tôi không còn nhớ rõ đâu là đâu nữa, chỉ là một khu mênh mông cũng phải cả chục ngàn thước vuông với những bàn ghế chồng chất lên nhau, những tủ gổ khoá chặt, những tủ kính được bao phủ bằng những tấm nylon có dây cột chằng chịt, xích lại với nhau bằng những ổ khoá lớn. Tôi đi lòng vòng một lúc thì tìm ra dẫy sạp bán cơm vì tôi thấy những lò bếp dầu, những lu nước và vô số những chậu bằng nhôm. Tôi ghé vào nơi đó và tìm được một vại còn chứa một chút nước bèn thò tay xuống lấy nước lên uống. Vì quá mệt, tôi chui xuống dưới xạp gổ nằm đó, chờ sáng đến sẽ chui ra. Hơi nóng ở lòng đất vẫn còn bốc lên hừng hực mặc dù trời đã xẩm tối. Tôi không thấy đói, có lẽ vì tôi biết dù có đói cũng chẳng có gì ăn. Tôi nằm đó nghĩ mung lung một lúc rồi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.






Những tiếng máy xe, tiếng ca nhạc, tiếng người nói chuyên, tiếng bánh xe bò lăn, và đủ mọi thứ tiếng động khác làm tôi tỉnh giấc. Tôi liền ý thức rằng buổi sáng đã bắt đầu nơi cái chợ trời này mặc dù mặt trời chưa mọc, ánh sáng chỉ mới do những ngọn đền măng xông (manchon) và đèn dầu chiếu ra. Người người đã bắt đầu dọn hàng và chuẩn bị cho một ngày làm ăn buôn bán. Tôi vội chui ra khỏi gầm sạp và vội lén lút đi ra phía con đường, nơi những con buôn đang tụ tập dỡ hàng xuống từ những xe bò, xe gắn máy, xe đạp và chuẩn bị đưa vào trong chợ. Họ cười cười nói nói, kêu nhau inh ỏi, la hét, và chửi nhau, thật là náo động cả một khu rừng vốn âm u không một tiếng động. Ngoài tiếng Miên, tôi đôi khi còn nghe được cả tiếng Việt, chứng tỏ rằng trong số những con buôn ở đấy có cả những thành phần người Việt hoặc người Miên gốc Việt nữa.






Tôi đã nghe nói rằng vào những năm bẩy bẩy, bẩy tám nhiều người Việt ở những vùng Tây Ninh, Long Xuyên, Châu Đốc hay những vùng cận biên khác đã đi sang cao Miên làm ăn sinh sống luôn, hoặc đi đi về về buôn bán. Sau này, chính nhờ những con buôn người Việt đó giúp đỡ mà cháu bé đã biết đường trở về Việt Nam, vì sau khi chính quyền điạ phương bắt cháu và nhốt vào tù một tháng trời tại thị trấn Xi xô phon thì cháu bị tống cổ ra ngoài đường để rồi một mình phải tự lo lấy thân, tự mình phải xoay sở tìm cách trở về nhà. Thật là một phép lạ, một chuyện phi thường, khi một đứa bé mới mười hai tuổi đầu mà đã có thể từ suốt vùng biên giới Miên-Thái tự mình mầy mò tìm được đường đi trở về nhà ở Saigon.


Và chính tôi, cũng nhờ đi theo hai người phụ nữ Việt tôi tình cờ bắt gặp ở nơi chợ trời vào sáng hôm đó, mà tôi đã nhanh chóng trở về đươc Bát Tam Băng. Vì sau khi lắng tai nghe thấy có người nói tiếng Việt với nhau, tôi đã đi tìm và bắt gặp một nhóm bốn năm người đàn bà đang đón mua hàng lại từ những tay buôn lậu ở cái chợ Xoay đó. Họ nói với nhau bằng tiếng Việt nhưng dùng tiếng Miên để thương lượng mua bán với dân Miên.






Khi trời đã bắt đầu ửng sáng thì chợ Xoay cũng đã sẵn sàng để hoạt động. Người người bán bán mua mua đã đi đi lại lại, xem xét hàng bầy trên những sạp, những bàn dài, đủ thứ hàng xa xỉ phẩm, những đồ mỹ phẩm dùng cho phụ nữ để trang điểm như phấn son, thuốc sơn móng tay, bút vẽ mắt, những đồ trang sức như vòng đeo tay, giây chuyền, nhẫn, đủ thứ vải lụa muôn mầu muôn sắc đã cắt sặn thành từng khúc lớn nhỏ, hay còn nguyên từng cuộn lớn, giầy dép đủ


loại làm ở bên đất Thái, ra-đi-ô, cát-sét, nồi cơm điện lớn nhỏ, đồng hồ điện tử đủ hiệu như


Seiko, Citizen, Movado, Omega, thuốc lá Mỹ có như Camel, Lucky Strike, Pall Mall, anh có như


555 International, Dunhill, pháp có như Gitanes, Gauloises, rượu tây Mỹ nhật nào Martell, Hennessy, Courvoisier, Jim Beam, Suntori, cho đến những hàng tiêu dùng như bột ngọt, đường, sữa, tiêu, bánh kẹo, thậm chí cả thuốc tây nhiều vô kể. Những người bán là những kẻ đã đi biên giới mua hàng chở về bằng xe đạp hoặc những kẻ đã mua lại của họ những ngày hôm trước khi họ đưa hàng về đến đây. Những người mua là những con buôn lại, từ khắp nơi đến, nhưng nhiều nhất là từ Bát Tam Băng. Họ đi từng cặp hay từng nhóm nhỏ, mỗi người đeo trên vai hoặc sách những túi vải lớn để đựng những món đồ mà họ mua được. Tôi thấy thường là một người đứng ra thương luợng trả giá và quyết định mua còn ngưới kia chỉ đi theo nhìn, cho ý kiến, và sách phụ đồ. Kẻ nào nhanh chân thì mua được những hàng mình muốn với giá hời.






Tôi đã đi lòng vòng theo hai người đàn bà biết nói tiếng Việt, với mục đích để rồi sau đấy theo chân họ về Bát Tam Băng. Tôi đã thấy họ mua nhiều thứ đồ như vải luạ, thuốc tây, và hàng mỹ phẩm, chẳng bao lâu hai cái bao bố đã đầy nhóc. Khoảng tám giờ sáng họ đã mua xong xuôi những thứ hàng ấy, và tôi thấy họ đi đến khu chợ có những hàng ăn. Tôi vội đi theo sát bên họ và gợi chuyện;


- Xin lỗi, hai chị là người Việt hả?


Hai người đàn bà ngạc nhiên nhìn tôi, có lẽ lấy làm lạ tại sao lại có đàn ông Việt ở cái chợ Xoay này. Người đàn bà đã giữ vai chính khi đi mua hàng vui vẻ nhìn tôi và trả lời


- Vâng, anh cũng là người Việt sao? Anh làm gì ở đây?


- Tôi tính đi biên giới mà bị bỏ rơi nơi đây.


- Vượt biên hả?


Tôi gật đầu. Rồi tôi kể chuyện con tôi đả bị lạc, tôi phải trở về Bát Tam Băng để tìm Lon và nhờ


anh đi tìm cháu bé. Chúng tôi đi vào một quán cơm, hai người đàn bà gọi bún ăn và hỏi tôi muốn ăn gì. Tôi nói cả chiều qua tôi chưa được ăn và xin được ăn cơm gà và uống cà phê. Có lẽ họ nhìn tôi ăn ngon lành mà thấy thương hay sao đó, vì từ đó trở đi họ nói chuyện với tôi rất thân mật. Tôi kể cho họ nghe trước bẩy mươi lăm tôi làm thầy giáo ở Saigon và sau tôi đi đạp xích lô để kiếm sống. Tôi nghe lời bạn bè rủ rê đi vượt biên đến nơi đây bị lạc nhau, không còn


biết đâu mà mò. Người đàn bà tên Liên, tuổi khoảng độ ba mươi mấy, nhìn tôi nói “Thầy giáo


mà sao anh gan quá vậy!” rồi cười khinh khích. Liên kể cho tôi nghe nàng trước kia buôn bán vải ở chợ ở Long Xuyên, có chồng là thiếu úy đả chết trận năm bẩy ba, đến năm bẩy tám thì đi Nam Vang lập nghiệp và hiện ở Bát Tam Băng. Người phụ nữ kia tên Dung, kém Liên bẩy tuổi, cũng là dân Long Xuyên, mới đi theo Liên sang Kămpuchia được hơn hai năm và cùng ở Bát Tam Băng với Liên. Nghe nói Long Xuyên, tôi biạ chuyện là vào những năm sáu lăm sáu sáu tôi đả đi dạy ở Trung Học Thoại Ngọc Hầu thì Liên nói nàng đang học đệ ngũ đệ tứ tại trường đó mà sao không biết tôi, làm tôi đỏ mặt tiá tai, thấy mình đã lỡ mồm nói dối nên bị kẹt. Tôi đành lờ đi nói sang chuyện khác. Đến lúc ăn xong trả tiền, tôi nói với Liên tôi không có tiền Miên, chỉ có tiền Việt, thì nàng nói “ không sao, anh để em trả.” Tôi rói rít cám ơn thì nàng nói “Có gì đâu mà anh cám ơn? Gặp được anh là chúng em vui lắm!” làm cho tôi đoán chừng là nàng nhớ nhà, nhớ Long Xuyên, và tôi hỏi “Liên có khi nào lên Saigon không?” Nàng trả lời “Trước giải phóng em có lên Saigon đôi ba lần, sau này em không có dịp lên chơi”. Tôi bèn cho nàng địa chỉ nhà mẹ tôi ở Thị Nghè và mời nàng ghé chơi khi có dịp đi Saigon. Sau này tôi hỏi vợ tôi và được biết không có ai tên Liên ở Kămpuchia hay Long Xuyên đến tìm tôi hết. Không biết nàng có hay rằng giờ này tôi đang ở cái xứ San Francisco viết về cuộc gặp gỡ trời định này hay không? Không có nàng giúp đỡ tôi, biết đâu giờ này tôi còn ở Saigon, còn đạp xích lô, chờ ngày được gặp lại nàng trong một hoàn cảnh khác, không chớ trêu như hồi đó?






Trả tiền ăn xong, chúng tôi đi ra con lộ, tôi theo Liên và Dung leo lên một chiếc xe bò đã có ba bốn người ngồi chờ sẵn và chiếc xe chậm chạp đưa chúng tôi vào thị xã Xi xô phôn cách đó chừng hai cây số. Tôi thấy hai người xuống xe và Liên móc tiền ra trả, rồi tôi đi theo nàng qua một vài con phố nhỏ, đến một quãng đường vắng có hai chiếc vận tải nhỏ hiệu Isuzu, có mang cờ hiệu UNICEF ở hai bên cánh cửa, chở đầy những bao gạo năm mươi ký do các nước viện


trợ cho dân Miên tị nạn ở vùng biên giới. Liên lại nói gì với anh tài xế rồi ra phía sau leo lên ngồi trên những bao gạo. Sau đó Dung cũng leo lên, và thấy tôi lớ ngớ đứng dưới chưa biết phải làm gì thì Liên nói “Xe đi Bát Tam Băng, anh lên đây đi!” Tôi đã chỉ chờ có thế để leo lên ngồi cạnh nàng. Tôi nói với Liên tôi có ít tiền Việt muốn nàng đổi cho tôi sang tiền Miên để trả tiền xe và tiêu vặt ở Bát Tam Băng thì nàng nói “anh cứ giữ lấy để khi về Nam Vang tiêu và tìm cách về Saigon” rồi nàng móc túi lấy một mớ tiền Miên, đưa cho tôi nói “tạm thời anh dùng số tiền này.” Tôi nói “ Liên tốt với tôi quá! Tôi biết ơn Liên rất nhiều!” thì nàng lại rất khiêm nhường “Có gì đâu anh! Mình đồng hương với nhau mà!”






Chỉ chừng mươi phút sau thì tôi thấy một tên Miên khác, tay cầm giấy tờ gì không biết, leo lên ca bin xe ngồi và tài xế mở máy cho xe chạy. Chiếc xe còn mới tinh chạy phom phom trên con đường đất đỏ gồ ghề mà tôi không thấy sóc lắm, có lẽ vì xe chở nặng và lại có ống nhún tốt. Tuy nhiên xe chạy cũng chậm, tôi đoán chắc cũng chỉ ba bốn mươi cây số giờ, thế mà cũng gây bụi mù đằng sau lối xe đi. Liên và Dung cười cười nói nói suốt đoạn đường đi, còn tôi thì ngồi yên đó suy nghĩ mông lung. Tôi chỉ mong mau đến Bát Tam Băng để đi tìm Lon.


Chiếc xe chạy hai tiếng đồng hồ thì về tới Bát Tam Băng. Xe tới ngoại thành thì dừng lại cho chúng tôi xuống. Tôi thấy Liên chạy lại phía cửa xe nơi tài xế ngồi, lấy tiền đưa cho tên Miên, rồi chiếc xe lại rồ máy chạy đi. Liên kêu một chiếc xe đạp lôi và cùng Dung lên xe rồi bảo tôi lên xe về nhà chơi, nhưng tôi cám ơn nói rằng tôi phải đi tìm cháu bé và xin cáo từ. Tôi cám ơn Liên thêm lần nữa và nhắc nàng là nếu có dịp đi Saigon xin cố ghé chơi tôi để tôi tạ ơn. Liên chỉ cười nói “có gì mà anh phải nói thế? Giúp được anh một chút như vầy là chúng em thấy vui” rồi quay sang Dung “ phãi không em?” Và Dung cũng cười rất tươi nói “Dạ, thưa đúng vậy ạ!” Rồi chiếc xe lôi đưa hai nàng tiên của tôi đi mất, không bao giờ tôi còn được gặp lại. Tôi nói hai nàng tiên không phải vì hai người ấy đẹp về thể xác, mà là vì họ đẹp trong tấm lòng. Tôi bùi ngùi bước đi, đầu óc còn vương vấn hình ảnh hai người phụ nữ Việt đầy lòng nhân đạo mà tôi phải mang ơn đến bao giờ.






Trời đã nóng kinh hồn. Lúc đó chắc đã phải hơn mười giờ sáng. Trên con lộ, có nhiều người đi qua lại bằng xe đạp, và lâu lâu có một chiếc xe gắn máy honda hay mô bi lét chạy nhanh qua làm bụi bay lên mù mịt. Tôi cũng thấy nhiều người đi bộ trên những con đường mòn dẫn vào các làng bên trong mà tôi có thể thấy lờ mờ tuốt đằng xa. Tôi đi bộ dọc theo con lộ chừng ba mươi phút thì nhìn thấy lại chiếc cầu mới dẫn vào thành phố Bát Tam Băng, chiếc cầu đã làm tôi hú hồn hú vía khi đi qua buổi sáng sớm hôm trước, khi Lon và tôi lên đường đi Xi xô phôn. Bây giờ thanh thiên bạch nhật, tôi thấy chiếc cầu nhỏ đó và cái trạm kiểm soát không có vẻ gì đáng sợ cho lắm, vì tôi thấy có nhiều người ở ngoại thành dắt xe đạp, xe gắn máy hoặc đẫy xe lôi đi qua mà không thấy bị xét hỏi gì. Do vậy mà tôi yên bụng hơn khi tiến gần lại nơi đó. Khi lẩn vào đám người đi qua chiếc cầu nơi có những tên bộ đội người Việt đứng canh, tôi cũng thấy hơi hồi hộp, hơi sợ nhưng tôi phải cố tự trấn tỉnh, không làm một hành động gì bất thường. Khi đi ngang trạm canh tôi bổng nghĩ đến cái khăn choàng cổ, đưa tay lên đầu không thấy nó đâu nên hơi chột dạ, may mà tôi lấy ngay lại bình tĩnh và đi tiếp như không có chuyện gì.


Đi tới con đường đất đỏ rẽ vào nhà Lon, con đường đất đỏ trải đá xanh, con đường dài khoảng năm sáu trăm thước băng qua một cây cầu nhỏ bằng xi măng, bên trái có những căn nhà bằng gổ và nhiều cây xoài, bên phải có căn nhà một tầng dùng làm trụ sở ủy ban nhân dân xã, tôi lại sờ lên cổ để tìm chiếc khăn ấy nhưng vẫn không thấy, tôi bèn đi vào con đường đất ấy rồi tìm một bụi cây ngồi nghỉ chân và suy nghĩ.






Mồ hôi đổ xuống trán, xuống mắt tôi như những hạt nước mưa lớn, tôi lấy tay quệt, và nghĩ mãi vẫn chưa hiểu chiếc khăn quàng cổ của tôi đã biến đi đâu. Ngồi tính lại những gì đã xẩy ra hôm trước, tôi từ từ khám phá ra rằng khi ở trong căn nhà tôn, lúc chờ đến lượt mình để bị tra khảo, tôi cũng không có chiếc khăn để lau mồ hôi. Thế rồi tôi nhớ ra vụ Lon mua cho tôi chiếc nón và cột chiếc khăn quanh nón đưa cho đội lên đầu. Mà chiếc nón bây giờ đâu, tôi cũng không biết nữa. Có lẽ trong lúc bị chặn bắt hôm qua tôi đã luống cuống làm rơi nó mà không hay! Thật là kỳ lạ! Mà tôi cũng không hề nhớ đến nó cho đến bấy giờ, lúc tôi đi qua chiếc cầu.


Ngồi một lúc cho đỡ mệt, tôi đứng dậy đi vào con đường đất đỏ lởm chởm đá xanh để đi tìm nhà Lon. Tôi đi khoảng mươi phút thì lại nghe tiếng phóng thanh phát những bản nhạc Việt lời Miên mà tôi đã nghe hôm trước.Tôi nhớ đi qua căn nhà này thì quẹo trái, đi độ trăm thước nữa thì đến một căn nhà kho, bên phải là nhà của Lon.






Khi tôi vào nhà Lon thì anh không có nhà, chỉ có người vợ tên Vi ra nói chuyện. Lúc đầu Vi giả vờ không nhận ra tôi và nói không biết ai tên Lon, nhưng sau khi tôi dọa sẽ ra trụ sở công an tố cáo, và nói rằng nếu tôi đi tù thì Lon cũng đi tù, thì Vi chịu cho tôi vào ngồi chờ Lon về và lấy nước cho tôi uống. Tôi chờ cả tiếng chưa thấy Lon về nên nói Vi đi tìm anh. Vi rải chiếu xuống dưới gầm một bộ ván khá cao, bảo tôi chui vào đó nằm trốn, trong khi nó đi tìm Lon về. Tôi nằm một lát thì ngủ thiếp đi lúc nào không hay.


Khi Lon đánh thức tôi dạy thì đã chiều tối. Anh lấy khăn nước cho tôi rửa mặt rồi bảo tôi ra phía sau nhà ngồi ăn cơm. Vi và các con anh đã ăn trước nên chỉ có tôi và Lon ngồi dưới ngọn đèn dầu, vừa ăn vừa nói chuyện. Bữa cơm chẳng có gì ngoài nồi cơm và hai con cá khô nướng, to bằng nửa bàn tay và bát nước lã. Lon bảo anh không biết là tôi được thả về nên không đi mua thức ăn cho tôi. Tôi nói thức ăn không quan trọng và tôi đã trốn về chứ không được thả. Anh hỏi tôi trốn làm sao, tôi chỉ nói là tôi đã chạy theo những người khác và lính đã bắn theo mà tôi không chết.






Thế rồi Lon kể cho tôi biết rằng anh đã bị bắt nhưng được thả ra liền, anh đã lấy chiếc xe đạp và bao bố quần áo của chúng tôi về, và sau hết anh nói rằng tên dẫn đường đi đầu tiên là anh của Sô phi đã bị bắn chết, xác đã đem về và sẽ được chôn vào hai ngày tới. Tôi hỏi anh con tôi đâu thì anh nói cháu bé đã đến Nông Chan cùng với Huân. Nông Chan là vùng bên kia biên giới Thái nơi có trạm đón người tị nạn từ đất Miên qua. Tôi hỏi anh tên Kết, ngưòi em cột chèo của anh đâu thì Lon nói hắn chưa trở về. Do đó, tôi không tin là con tôi đã đi được tới biên giới. Cháu bé đi sau tôi và Lon, nếu không bị bắt trong vụ kiểm soát gắt gao chiều hôm trước thì đã phải trở về Bát Tam Băng với tên dẫn đường và hiện phải đang ở đây chứ không thể đi tới biên giới được. Tôi nói với Lon rằng không phải như anh nói, cả bác Lũy, cháu bé và Huân hiện đang bị tù ở Xi xô phon, và tôi muốn anh đi dò tin cho tôi. Anh nói không được, nguy hiểm lắm. Chính anh cũng đang sợ bị bắt. Tôi nhìn bộ mặt tái xanh của anh tôi biết anh nói thật.


Vả lại, không hiểu vì một lý do gì, tôi vẫn tin ở Lon, tôi không nghĩ anh nói dối hay tìm cách gạt tôi. Có thể anh nghĩ rằng Kết chưa về, tức là hắn đang ở Nông Chan với cháu bé. Anh nói với tôi cả hai tên đưa bác Lũy và Huân cũng đều chưa thấy về, và anh lo lắm. Anh bảo Hai Học đã hại anh và các bạn anh và cả ngày hôm ấy anh đã ở trên chùa để cầu nguyện.


Tôi nói với Lon ý định của tôi là đi Nam Vang rồi trở về Saigon để cho người đi tìm cháu bé. Anh nói là tôi không đi Nam Vang được vì rất nguy hiểm, sẽ bị bắt. Tôi hỏi tại sao, anh chỉ nói


rất nguy hiểm, không đi được. “Toi pas aller Pnong Penh, très dangereux!” Anh cứ nói như thế,


nhắc đi nhắc lại. Tôi cứ hỏi anh “pourquoi dangereux?” (tại sao lại nguy hiểm) thì anh không nói. Rồi anh bảo tôi “toi rester ici avec moi deux jours, trois jours. Quand pas dangereux nous aller frontière. Toi trouver ton petit” (mày cứ ở đây với tao vài ngày, khi không còn nguy hiểm nữa tao sẽ đưa mày đi biên giới tìm con mày).






Ăn cơm xong, chúng tôi ngồi ở sân một lúc, anh hút thuốc vấn còn tôi nghĩ ngợi lung tung. Tôi chẳng biết phải quyết định ra sao. Anh bảo tôi lên biên giới tìm cháu bé, tôi nghe cũng bùi tai nhưng nếu không tìm được thì sao? Tôi đành đi một mình hay sao? Đến được biên giới rồi thì còn ai trở về nữa? Mà đi luôn thì làm sao còn tìm được cháu bé? Đó mới là điều khó sử. Ngược lại, nếu trở về Saigon mà bị bắt thì khốn nạn cuộc đời! Và nếu mà may mắn không bị bắt thì không làm sao trở lại Xi xô phon tìm cháu bé được. Tôi bâng khuâng không biết phải làm sao bấy giờ.


Đang suy nghĩ mông lung thì Lon bảo tôi đi tắm. Ban đêm rồi mà trời vẫn còn oi ả. Lon lấy nườc vào một chậu lớn và đi vào nhà tìm, trong cái bao bố mà chúng tôi đã mang theo, một cục sà bông cho tôi tắm. Tôi tắm xong đến phiên anh tắm. Lon chỉ dội nước ào ào thế là xong. Rồi anh bảo tôi chui xuống chỗ gầm phản lúc trưa ngủ. Anh nói anh không muốn ai bất chợt vào nhà mà thấy tôi “toi coucher ici. Personne entrer pas voir toi!”


Sáng hôm sau tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng hẳn. Tôi lồm ngồm chui ra thì thấy Vi, vợ Lon đang ngồi đưa võng cho con ngủ. Tôi hỏi Lon đâu thì Vi nói anh ta đã lên chùa. Từ hôm tôi thấy anh đốt cả bó nhang để cúng Phật và vái tứ phương, tôi biết anh tin ở Trời Phật và ở luật nhân quả. Trong chuyến đi này đã có người chết và người bị bắt nên anh coi đó là điềm rất xấu và anh lên chùa để xin Trời Phật phù hộ cho tất cả chúng tôi.


Mãi đến xế trưa tôi mới thấy anh đạp xe đạp về, anh đã mua cho tôi một gói thuốc lá Samit, một túi cà phê đá và một ổ bánh mì ngọt. Anh ngồi chơi với tôi một lúc trong khi tôi ăn cái bánh và uống cà phê, nói với tôi dăm ba câu, rồi anh nói anh lại phải lên chùa để cúng cho tên dẫn đường đã bị bắn chết. Anh nói hôm sau sẽ đi chôn, và sau đó anh sẽ tính chuyện đưa tôi lên biên giới. Tôi nói tôi muốn ở lại Bát Tam Băng lâu hơn để xem Kết có đưa con tôi về không, nhưng anh nói không được, ở lại nguy hiểm lắm! Trước khi anh đi anh dặn tôi đừng chui ra ngoài, phải ở dưới gầm phản. Suốt chiều hôm đó tôi cứ nằm ở dưới gầm giường, tôi thèm hút thuốc mà cũng không được hút.






Khi Lon về thì trời đã tối hẳn. Anh mua hai gói cơm gà và hai bịch nước thốt nốt đã lên men và chúng tôi lại ra sau sân ngồi ăn. Trông anh có vẻ buồn và hơi bơ phờ. Tôi hỏi anh có chuyện gì nữa không thì anh lắc đầu. Chúng tôi ăn cơm và uống cái thứ nước chua chua ấy. Ăn xong chúng tôi ngồi hút thuốc rồi lại đi tắm như đêm hôm trước. Trước khi đi ngủ tôi móc túi lấy bó tiền Việt nam đưa cho anh, bảo anh dùng lo vụ chôn cất. Anh nhìn tôi chảy nước mắt và ôm tôi rất lâu, miệng nói “toi très bon, merci toi!” (cám ơn mày, mày tốt lắm). Sau đó anh bảo tôi đi ngủ còn anh vẫn ngồi ngoài sân hút thuốc.






Thế là hết ngày thứ hai tôi nằm chờ ở Bát Tam Băng mà không có tin tức gì của con tôi. Tôi vẫn cầu mong cháu sẽ được Kết đưa trở về nhà Lon, hay ít ra có ai biết tin cháu hiện ở đâu, để tôi tìm cách liên lạc với cháu. Tôi cũng mong tên dẫn đường chở bác Lũy trở về hòng may ra hắn biết chuyện gì đã xẩy ra cho cháu bé, để tôi còn biết đường mà lo. Bác Lũy nay đã bị bắt, nhưng tên dẫn đường đưa bác đi hiện đang ở đâu? Tôi đã hỏi Lon và anh nói anh cũng không biết và chính vì thế mà anh càng thêm lo. Trong đầu tôi bao nhiêu câu hỏi quay cuồng mà tôi không tìm ra câu trả lời. Tôi vẫn chưa biết phải quyết định ra sao, đi trở lên biên giới tìm con, hay quay trở về Saigon để tìm người giúp đỡ.


Đêm hôm đó tôi ngủ chập chờn, có lẽ vì tôi đã ngủ nhiều trong ngày, và những lúc tỉnh dậy tôi muốn đi ra sân ngồi hút thuốc mà không dám. Tôi thấy Lon hai hôm nay có vẻ khổ sở lo lắng ra mặt. Tôi không biết trong đầu anh nghĩ gì, mà hỏi anh, anh không nói. Có lẽ anh cũng đang thắc mắc vì sao đứa em cột chèo của anh chưa về.


Tôi thấy Lon và Kết có vẻ thương nhau lắm, và lúc sáng tôi đã có dịp nói chuyện với Vi và được biết vợ Kết là Sô Phi, mà Sô Phi là em của Vi. Lúc đó tôi mới hiểu mối liên hệ anh em giữa Lon và Kết. Hai hôm ở nhà Lon tôi không thấy Sô Phi đâu, tôi đoán chừng có lẽ nó theo Hai Học đi Nam Vang chưa về. Tôi tính sẽ hỏi Lon và tìm cách liên lạc với Hai Học với hy vọng y biết ai ở Xi xô phon để hỏi dò tin tức về cháu bé.






Sáng hôm sau, khi nghe tiếng gà gáy tôi đã tỉnh dậy, nhưng vẫn nằm dưới gầm phản nơi góc nhà. Tôi đã ngửi thấy mùi hương đốt trên bàn thờ Phật nên đoán Lon cũng đã dậy. Tôi nghĩ chắc đêm qua, với bao nhiêu mối lo âu trong đầu, anh cũng chẳng ngủ được nhiều. Nghe tôi lục đục dưới gầm phản, anh cúi xuống nhìn rồi kêu tôi ra sân ngồi chơi.


Chúng tôi ngồi hút thuốc và anh nói anh đã chuẩn bị tất cả để hôm sau tôi và anh sẽ lên đường. Anh nói anh đã hỏi ông Thầy trên chùa ngày tốt cho tôi đi được sang Thái Lan thành công. Sáng nay, anh sẽ mang tiền mà tôi đưa cho anh đêm qua đi đổi, và sẻ biếu chùa một phần để cho tôi được Phật phù hộ. Nghe anh nói tôi càng thương anh, vì anh thật lòng muốn giúp tôi ra đi cho thoát. “Toi arriver Siam, toi vivre heureux, il faut toi aller”, anh nói nếu tôi đi được sang Thái thì tôi sẽ có cuộc đời mới, tôi sẽ sung sướng.






Khi trời vừa ửng sáng thì anh đã ra đi, tôi đã lại chui vào cái nơi trú ẩn của tôi nằm suy nghĩ


miên man. Tôi cố moi óc tìm hiểu xem chuyện gì đã xẩy ra cho cháu bé sau khi tôi đã bị bắt, khi


tôi đang trên lối trở về cái cổng đồn kiểm soát ấy. Tôi nghĩ Kết chỉ đi sau tôi và Lon khoảng mươi phút, không biết hắn có nhanh trí, biết đường mà quành nhanh trở lại, khi thấy tên lính Miên đứng chắn ngang con lộ trước cổng đồn để chặn không cho chúng tôi chạy ngược lại hướng Xi xô phôn hay không. Nếu có thì giờ này hắn phải ở nhà, ở Bát Tam Băng. Mà hắn lại không ở đây thì hiện giờ hắn đâu? Cháu bé đâu? Tôi cố phân tích mọi sự kiện, đề ra mọi giả thuyết để tìm hiểu những sự thể đã có thể xẩy ra, để cố tìm xem con tôi, đứa con trai yêu quí đầu lòng của tôi, lúc ấy đang ở đâu? Có thể nào cháu bé đã đến biên giới như lời Lon nói hay không? Rồi tôi cố tìm hiểu xem vì sao Lon lại nói như thế, tại sao anh lại bảo rằng con tôi và Huân đang ở Nông Chan, là nơi yên bình, là nơi mà chính bản thân tôi cũng đang muốn ở, vào cái lúc khốn nạn ấy. Anh đã dựa vào cái gì mà nói thế? Bởi vì tôi biết anh không phải là người toan tính lừa gạt tôi. Tôi thấy rõ anh là người lương thiện, là người chân thật, mộc mạc, tin tưởng ở Trời ở Phật, anh hay đi chùa cầu nguyện, chắc chắn anh không nói dối, anh không có ẩn ý gì khi nói với tôi như vậy.






Rồi tôi nghĩ đến giờ này ở Saigon, chắc vợ tôi cũng đi chùa cầu xin cho hai bố con tôi tai qua nạn khỏi, cầu xin cho chúng tôi đi được tới biên giới như anh Nhơn và con anh, đi nhanh chóng, đi ngon lành. Vợ tôi giờ này chưa biết những chuyện gì đã xẩy ra cho chúng tôi, nàng chưa biết cháu bé đang bị lạc, chưa biết vụ hôm trước tôi đã bị bắt, đã chạy trốn, chạy chối chết khi những viên đạn AK bắn vèo vèo xung quanh. Tôi liên tưởng đến tên dẫn đường đã bị bắn chết. Tại sao hắn lại bị bắn chết? Hắn là người Miên, có giấy tờ tùy thân, có bị bắt thì cũng được thả. Hắn đã làm gì để phải bị bắn chết? Chuyện gì đã xẩy ra vào cái giây phút kinh hoàng ấy? Rồi tôi nghĩ sang cái đám tang lát nữa đây, Lon sẽ có mặt ở đó. Hắn ta sẽ được chôn cất nhanh chóng ở một nơi nào quanh chùa Miên nơi Lon thường hay đến cầu nguyện. Chắc chắn sẽ có một ông sư đầu trọc, mặc áo cà sa mầu vàng, đọc những lời cầu nguyện cho linh hồn kẻ xấu số. Thế là xong, xong một cuộc đời con người. Hắn bây giờ đã chết rồi, nhưng hình ảnh hắn trông ra vẻ anh chị, cái hỉnh ảnh tôi có được của hắn lần gặp đầu tiên trên nóc xe lửa Puốc Sát - Bát Tam Băng, cái hình ảnh đó cứ chập chờn hiện ra trước mắt tôi trong vài giây hay vài phút, nay tôi không nhớ nữa. Dường như lúc ấy tôi cũng đã lẩm bẩn vài câu cầu nguyện cho linh hồn hắn sớm siêu thoát nơi miền cực lạc.






Miền cực lạc, hay thiên đàng, hay gì gì nữa, cái tên để chỉ nơi đầy hạnh phúc mà hồn con người sau khi chết sẽ được tới nếu mình đã sống đạo đức trong cả cuộc đời mình, có chăng cái miền cực lạc ấy? Người đã chết đi có mong gì hồn mình được siêu thoát nơi miền cực lạc như những kẻ còn sống cầu nguyện cho? Hay đó chỉ là mơ ước của kẻ còn đang sống, đang cầu nguyện, nói là đang cầu nguyện cho người đã chết nhưng kỳ thực là đang cầu nguyện cho chính mình? Người còn sống sợ chết đi phải xuống địa ngục chứ kẻ đã chết còn biết gì để mà sợ? Chết là hết, là xong cái nợ đời, như người ta thường nói. Hóa ra làm con người khi sống ai cũng khổ, ai cũng phải mang cái nợ đời, đi đâu nó cũng đè lên đầu lên cổ. Vậy ta sống để mà làm chi? Đời là bể khổ như thuyết nhà Phật đã dạy, sống phải chịu khổ mà sao ai cũng thích sống?






Cứ như vậy, tôi nghĩ đến hết chuyện này sang chuyện khác, nằm đó trong cái khe thấp giữa cái phản gổ dầy và mặt đất, cái thế giới mới của tôi, nơi mà đã ba ngày qua tôi đã sinh sống, đã làm nơi nghỉ, làm nơi để được sống cách biệt với thế giới bên ngoài. Tôi đã quen nằm như thế, và nó làm tôi nhớ lại những ngày ấu thơ khi tôi và các em tôi cứ lấy cái gầm giường làm nơi chui vào chơi, hay chui vào để làm lén một chuyện gì, hay để tránh bị ăn đòn. Tôi đã quen nằm như thế giống như lúc nằm dưới hầm chiếc ghe chở đầy những trái thơm khi di chuyền từ Châu Đốc tới Nam Vang.






Lon đã đi suốt sáng và trưa hôm ấy, lúc về, anh mang theo nào sôi, nào gà, nào thịt heo luộc, nào chuối, nào cam. Tôi biết anh đã mang những đồ cúng về nhà cho tôi ăn, tôi hỏi anh sao không để cho những người khác, anh nói “ c’est bon! Toi manger!” Đồ ăn ngon, tao mang về cho mày. Thương sao là thương cái lòng tốt của Lon! Bấy giờ tôi đã quen với lối nói tiếng tây của anh, lối nói như khi anh nghĩ, chỉ ghép chữ vào với nhau, bất kể văn phạm, bất kể cấu trúc


của câu nói. Sau này tôi thương cái lối nói đó và đôi khi tôi cũng nói lại với anh giống như thế! Tôi nói với Lon hãy lấy thức ăn anh đã mang về cho vợ con anh ăn, chỉ để một ít lại cho anh và tôi ăn chiều hôm ấy.


Sau đó, tôi hỏi anh có mua ở đâu được rượu đế hay không vì tôi đang thèm cái thứ đó. Tôi nói “alcool de riz” tức là rượu làm bằng gạo. Anh ngẩn nguời ra không hiểu, tôi nói “vin de riz” vì sợ anh không hiểu chữ alcool, anh vẫn nhìn tôi tròn xoay đôi mắt, tôi tức mình lấy tay làm dấu đổ rượu đưa lên mồm uống và nói “vin Việt nam! vin à moi!” Anh bổng cười, gật đầu mấy cái, rồi nói “moi aller acheter”. Anh lấy xe đạp phóng ra đi, nửa tiếng sau đem về chai rượu mà tôi đang trông chờ.


Lúc đó cũng đã xế chiều nên chúng tôi ra sau sân ngồi uống rượu với nhau trước khi ăn cơm.


Vì trời còn sáng nên Lon dặn vợ anh ở đằng trước canh chừng nếu có ai đến thì cho anh biết liền. Tôi cũng đã quen với cái nóng của xứ Kămpuchia nên không thấy quá khó chịu. Lon lấy hai ly con và đổ rượu ra, chúng tôi cụng ly trước khi uống.


Tôi thấy Lon bớt căng thẳng hơn trước, anh nhìn tôi như muốn mỉm cười nói “mày hên lắm! Phật sẽ giúp mày” Tôi không hiểu ý anh muốn nói gì nhưng cũng không hỏi. Tôi để anh muốn nói gì thì nói, tôi chỉ muốn nghe và đoán xem anh đang nghĩ gì trong đầu. Anh nói sáng nay ở chùa anh đã xin ông thầy khấn cho tôi để tôi đươc may mắn, không còn bị bắt nữa. Anh nói anh đã đưa cái áo tơ rây i (treillis) của anh cho ông thầy làm phép, đến mai đi anh sẽ lấy về để cho tôi mặc trên đường đi. Tôi sẽ được Phật phù hộ. Lon có vẻ tin tưởng lắm. Anh nói chuyến này sẽ tốt đẹp, tôi sẽ đến được biên giới. Tôi thấy anh uống liên miên, tay bẻ con cá khô bỏ vào miệng vừa nhai vừa nói chuyện. Tôi chỉ uống tí một vì không muốn say rồi bị nhức đầu.


Chúng tôi ngồi như vậy cả tiếng đồng hồ uống hết nửa chai đế, hút thuốc, nói chuyện. Lon sau này ngây ngây say và anh đã quên những chuyện hiện tại để đi về với cái quá khứ của cuộc đời anh. Anh kể cho tôi nghe về cuộc đời đi lính pháp của anh, anh nói anh đi lính từ năm một ngàn chín trăm năm muơi ba, khi đó anh mới mười tám tuổi. Anh không phải đi đánh nhau mà chỉ phục dịch cho một ông quan tây đầu tỉnh Bát Tam Băng. Cho đến năm năm lăm, quan tây về xứ anh đi lính cho hoàng gia Xi A Núc được lên đến chức cai ắt du đăng (adjudant) đến năm sáu ba thì anh thôi lính về nhà sinh sống với vợ. Anh kể lại chuyện anh lấy vợ năm hai mươi hai tuổi, khi anh đi lính thì vợ anh ở nhà buôn bán nuôi con, rồi đến khi vợ bị bệnh chết, con anh còn nhỏ, anh phải đem cho bà ngoại ở Xiêm Rệp nuôi. Đến năm bẩy mươi tám, anh gặp Kết khi cùng làm nghề dẫn đường rồi biết Vi và lấy Vi làm vợ. Ôi câu chuyện dài giòng, tôi chẳng muốn nghe những vẫn phải để anh kể vì tôi biết lúc đó anh buồn, muốn nói ra những gì nằm trong đáy lòng.


Tôi cũng đã bao ngày tháng uống rượu cho say rồi nghĩ đến thân phận mình nhưng chẳng có ai để tâm sự nên cái buồn cứ dồn nén trong lòng, riết tôi chỉ còn biết sống với riêng tôi, sống với những uẩn khúc của cuộc đời mình, nó ăn vào nội tâm. Do đó mà tôi cứ uống rượu, và vợ tôi, người thân thiết nhất của tôi cũng không hiểu tôi, cũng không hiểu tại sao tôi uống rượu và chỉ biết trách móc, bảo tôi tự gây ra những buồn phiền, tự gây ra bệnh tật.


Bản chất tôi ít nói, ít thổ lộ, ít bạn, ít tâm sự, nay ngồi viết lại những giòng hồi ký này, tôi có được phần nào cái cơ hội nói lên những gì tôi vẫn giữ kín. Tôi không biết tại sao tôi đã đủ can đảm viết ra những gì mà trước kia tôi chỉ để trong thâm tâm tôi, những gì tôi vẫn giấu, không để cho ai biết. Có lẽ Lon cũng đã như tôi, anh cũng đã có nhiều điều anh cứ giấu trong lòng rồi đến bữa đó anh lôi ra nói với tôi?






Tôi bảo anh cất chai rựơu đi vì sợ để đó cả anh lẫn tôi đều uống quá mức, chúng tôi ăn xôi với thịt gà luộc, rồi ngồi im lặng hút thuốc, nhìn bầu trời đầy những sao là sao. Anh lại lấy nước cho tôi tắm rồi chúng tôi đi ngủ.


Lon đã bảo tôi là phải đi ngủ sớm để có sức sáng hôm sau lên đường. Anh nói lần này chúng tôi sẽ cắt rừng đi thẳng đến biên giới mà không qua Xi xô phon như vậy sẽ không qua các trạm kiểm soát, do đó không sợ bị bắt. Tôi nghe anh nói như vậy thấy thêm vững bụng mặc dù không biết anh nói thế nghĩa là gì. Khi anh nói đi thẳng lên biên giới, tôi nghĩ con đường sẽ ngắn hơn và chúng tôi sẽ đến biên giới nhanh hơn. Tôi tin tưởng ở Lon và tôi biết anh sẽ làm


tất cả những gì anh có thể làm để đưa tôi bình yên đến Nông Chan. Tôi chỉ nghe anh nói mà


không hỏi anh câu gì.


Trong đầu tôi lúc đó vẫn nghĩ đến cháu bé và phân vân lỡ tôi đi lên biên giới mà Kết đưa con tôi về Bát Tam Băng thì làm sao. Tôi chưa muốn đi đâu cả, tôi chỉ muốn ở đó thêm vài ngày nữa để chờ cháu, nhưng tôi biết Lon sẽ không chịu. Anh đã nói rằng tôi phải đi Nông Chan tìm con tôi vì anh tin là cháu đang ở đó. Chần chừ lại không được, tôi đành phải làm theo ý Lon. Trước khi đi ngủ tôi nói với Lon là nếu vì lý do gì, sau khi tôi đi rồi mà Kết đưa con tôi về Bát Tam Băng thì anh phải đưa cháu lên biên giới cho tôi. Anh đồng ý và hứa sẽ làm đúng như lời anh nói, và tôi thấy yên tâm hơn.






Tờ mờ sáng hôm sau, Lon gọi tôi dậy và bảo tôi chuẩn bị lên đường. Tôi thấy anh đã bảo vợ nấu cơm và nắm lại thành từng nắm to bằng nắm tay, rồi gói vào lá chuối, đếm ra cũng cả chục nắm như vậy. Vi cho tất cả vào môt tay nải và đưa cho chồng. Lon lấy cái bao tải đựng quần áo và đồ dùng của năm người bọn chúng tôi và anh hỏi tôi muốn mang những thứ gì đi theo. Tôi chỉ chọn chiếc áo mưa của quân đội Mỹ mà tôi đã mang theo từ Saigon.


Tôi hỏi Lon cặp kính mà tôi gởi anh hôm trước, anh nói nó ở trong cái áo mà anh sẽ đưa cho tôi mặc lát nữa đây. Anh đưa cho tôi một đôi dép bằng mủ của bộ đội viêt cộng và bão tôi mang vào chân, anh nói đi rừng mà đi đôi dép nhật không tiện lợi. Anh cũng đưa tôi cái áo trây y của anh, nói rằng đó là cái áo anh đã đem lên cúng ở trên chùa và đã được ông thầy làm phép, và tôi phải luôn luôn mặc nó trên người để được Phật phù hộ, che chở. Anh còn đưa tôi một chiếc khăn choàng cổ khác vì anh biết tôi đã làm mất cái của tôi rồi. Anh đi lấy một cây đèn pin lớn và một con dao mã tấu dài có luỡi cong như lưỡi liềm và một bi đông nước. Anh nói gì với vợ anh một lúc, dặn dò cái gì tôi không biết rồi chúng tôi lên đường.






Tôi tưởng chúng tôi cũng sẽ đi bằng xe đạp như kỳ trước nhưng anh bảo mang xe đạp theo đường rừng không tiện, làm tôi bắt đầu e ngại. Tôi không hiểu làm sao tôi có thể đi hơn một trăm cây số bằng chân cho được, nhất là lại đi trong rừng, nhưng rồi nghĩ lại rằng nếu anh đi được thì tôi cũng phải đi được.


Thay vì đi ra mặt lộ, chúng tôi đi sâu hơn vào con đường đất đỏ cho đến khi không còn thấy nhà dân mà chỉ là những cánh đồng hoang. Tuy mặt trời chưa mọc trời đã bắt đầu hơi sáng và Lon đi thoăn thoắt trên những con đường mòn có cả vết chân người đi lẫn vết bánh xe đạp. Không có ai trên những con đường đó vào lúc tờ mờ sáng ấy và quang cảnh xung quanh có vẻ ma dại vì những đám bụi rậm xen lẫn những cây khô không có lá, chỉ có những cành cong queo, hiện trước nền trời âm u, tranh tối tranh sáng. Tôi khó nhọc lắm mới đi theo kịp Lon, anh đi trước tôi như một cái bóng đen trên vai có cái tay nải, bên hông có bi đông nước và tay cầm cây đèn và con dao, thỉnh thoảng lại quay về phiá sau nói “vite! vite!” (nhanh lên). Tôi lại gắng vừa đi vừa chạy như đứa bé con gắng đi theo mẹ, nhưng chỉ được một lúc vì chân mỏi, tôi lại đi chậm lại để rồi anh lại thúc tôi đi nhanh hơn. Tôi biết anh muốn ra khỏi thành phố trước khi trời sáng hẳn và quả nhiên chừng một tiếng đồng hồ sau chúng tôi đã đi trên một sườn đồi và tuốt xa phía sau, tôi thấy thành phố Bát Tam Băng trông như một thị trấn nhỏ bé.


Mặt trời đã lên từ lúc nào và tôi đã cảm thấy nóng nực trong chiếc áo lính Mỹ dầy cộm. Tôi nói Lon cho tôi nghỉ chân đôi ba phút, anh nói “pas maintenant!” (lát nữa) và cứ tiếp tục bước đi. Từ trên sườn đồi tôi thấy dưới kia, có lẽ cách nơi tôi đứng cả cây số, con lộ mà tôi đã đạp xe theo để đi Xi xô phon hôm trước.


Hai đứa tôi cứ lầm lì đi như vậy, chẳng đứa nào nói câu gì, có lẽ cả tiếng đồng hồ nữa thì đến một vùng có cây cối và chúng tôi dừng chân nơi đấy.


Lon lấy bi đông nước, không uống mà đưa cho tôi nói “pas beaucoup” (đừng uống nhiều) và tôi uống một ngụm xong trả lại cho anh. Tôi thấy anh lấy thuốc vấn ra hút, trông anh không có vẻ gì là mệt mà tôi thì đã thở không ra hơi. Tôi hỏi anh mình đi được bao xa rồi anh nói mười lăm cây số. Anh bảo tôi cởi chiếc áo lính, lấy treo lên một cành cây thấp trên đầu anh, rồi quì xuống trước đó lẩm bẩm khấn.


Chúng tôi nghỉ chừng mười lăm phút, rồi Lon gỡ cái áo xuống đưa tôi mặc trở lại. Vì trời đã quá nóng tôi chỉ khoác vào vai nhưng anh không chịu, bảo tôi phải mặc vào tử tế. Rồi chúng tôi lại lên đường.


Cứ như thế, chúng tôi đi theo những con đường đất nhỏ, bề ngang chừng một thước, lúc lên


đồi lúc xuống, khi thì là cánh đồng nắng cháy khi thì là nơi có chút ít cây cỏ. Nhiều nơi tôi thấy


con đường đất chẻ đôi, đi ra làm hai phía. Tôi cứ lầm lũi theo Lon, anh đi đâu tôi đi đó, nhiều lúc phải chạy đuổi theo vì anh đi thoăn thoát không biết mệt.


Tôi đã không còn thấy con lộ lúc ban nãy, có lẽ chúng tôi đã đi sâu vào khu rừng bên trong. Cứ như thế đi chừng một tiếng rưỡi hai tiếng anh mới lại cho tôi nghỉ chân. Tôi thì đã thấm mệt, đòi anh cho nghỉ lâu hơn và đi quãng ngắn hơn. Tôi biết tôi đã đi chậm lại và anh cứ luôn miệng “vite! vite!” (đi nhanh lên!) làm tôi phát khùng luôn. Tôi không hiểu tại sao anh không mệt, tôi thấy mồ hôi anh đổ ra ít hơn tôi và anh cũng khát ít hơn tôi.


Mỗi lần chúng tôi dừng chân anh luôn luôn tìm một nơi có bóng mát, một nơi có bụi cây để anh treo chiếc áo lên rồi quì xuống khấn. Tôi thấy anh làm công việc đó một cách trịnh trọng, như thể người ta khấn lễ ở chùa, và tôi biết anh thực sự tin ở phép mầu nhiệm, ở sự phù hộ của Đức Phật. Từ từ tôi thấy tôi cũng phải làm một cái gì trong khi anh nghiêm nghị cầu nguyện như vậy và miệng tôi cũng nhấp nháy theo, môi tôi cũng run rẩy, tôi cũng thì thầm cho chính tôi “nam mô a di đà phật quan thế âm bồ tát..”






Tôi có biết đọc kinh cầu nguyện bao giờ đâu? Những lần đi chùa chỉ là mục đích đi theo vợ tôi, hoặc đi thăm cái hũ đựng tro của bố tôi. Lần mà tôi phải ngồi quì trước bàn thờ Phật trên chùa là lần bố tôi chết, quàn xác taị ngôi chùa ở đường Công Lý, nơi có ông Thầy mù mà cả gia đình tôi kính trọng. Tôi đã quì lạy nhưng đâu có thuộc bài kinh nào đâu mà đọc? Ngày còn nhỏ mẹ tôi bắt tôi học thuộc lòng bài kinh cứu khổ và đọc mỗi ngày năm bẩy chục lượt lúc đi ngủ hay lúc thức dậy. Gọi là bài kinh nhưng thực sự nó chỉ có một câu, cứ đọc đi đọc lại. Mẹ tôi nói đọc càng nhiều, Phật càng phù hộ cho tôi, và trong trí óc non nớt của đứa trẻ như tôi, tôi đã tin là như thế và mỗi khi làm bài thi trong lớp mà bí thì miệng tôi lại lẩm bẩm bài kinh cứu khổ. Đến bấy giờ tôi vẫn còn nhớ mang máng “nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm bạch y quan thế âm bồ tát” và tôi cũng đã lẩm bẩm như thế!






Lúc này đây khi tôi ngồi kể lại những sự kiện trên, tôi tự hỏi tại sao con người chỉ nghĩ đến trời đến Phật, đến Chúa, hay đấng thiêng liêng nào khác, và cầu nguyện khi trong cơn hoạn nạn, khi lòng mình thấy bất ổn, hay khi mình tuyệt vọng, mình đang đau khổ, đang muốn khóc, hay có khi đang muốn chết? Tại sao lúc sung sướng, lúc khỏe mạnh, lúc yên bình con người lại không cầu đến sự phù hộ, sự cứu rổi của những đấng thiêng liêng đó? Tôi không hiểu cầu nguyện có tác dụng gì trên con người mình, trên tâm trí mình, nhưng tôi cũng như Lon, như vạn triệu người khác, cũng đã cầu nguyện, cũng đã xin trời phật phù hộ, và tôi tin rằng vì như thế mà tôi mới thoát chết, mới đến được biên giới, và nay mới đang ở cái thành phố Cựu Kim Sơn này.






Đến khoảng bốn năm giờ chiều, chúng tôi đi trên cao, nhìn xuống thấy một con sông nhỏ đã gần cạn nước dẫn vào môt ngôi làng mà tôi thấy xa xa. Trời đang sáng bổng tối xầm xuống và chỉ mươi phút sau những giọt mưa đổ xuống rào rào. Tôi vội lấy chiếc áo mưa ra rồi Lon và tôi ngồi cạnh nhau trên một hòn đá lớn, trên đầu chúng tôi là bốn cánh tay giữ chiếc áo mưa. Trời mưa nhanh và cũng tạnh nhanh, chỉ chừng mươi phút sau là cơn mưa đã qua, mặt trời lại chiếu sáng nhưng đã bớt nóng nhiều, Lon bảo tôi ngồi đó anh đi kiếm nước.


Tôi lại một gốc cây gần đó, trải chiếc áo mưa xuống đất nằm. Tôi cảm thấy mệt mỏi, chúng tôi đã đi suốt nửa ngày trời mà tôi thì lại không quen đi bộ. Tôi nằm đó nhắm mắt lại, tay vắt trên chán nhưng trong đầu tôi trống không, tôi chẳng suy nghĩ gì. Thế rồi tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay, lúc tĩnh dậy tôi không thấy Lon đâu nhưng có cái bi đông nước và con dao bên tôi, tôi biết Lon đã trở lại, thấy tôi ngủ, anh để cho tôi yên, và đã đi đâu đó. Tôi lấy điếu Samít ra hút ngồi chờ Lon trở lại.


Tôi sốt ruột chờ cả tiếng đồng hồ mới thấy Lon về. Anh tươi cười cầm trong tay hai ống tre


đựng nước thốt nốt, một nải chuối con và mấy con cá khô. Anh nói anh đi vào trong làng hỏi thăm đường đi và mua chuối và cá cho tôi ăn cơm. Anh ngồi xuống bên tôi, mở tay nải ra lấy bốn nắm cơm. Tôi hỏi “chúng ta đã đi đươc bao xa rồi?” thì anh bảo “nửa đường” rồi ngưng một lúc “chiều mai chúng ta sẽ tới Xi xô phon”. Chúng tôi ngồi ăn cơm, tôi không thấy đói mà chỉ thấy khát nên uống hết ống nước thốt nốt. Lon đưa tôi nắm cơm nữa bắt tôi ăn “để mai có sức đi. Đường còn xa” ( toi manger, toi plus fort demain. Route encore loin). Ăn xong cơm, anh


đưa tôi nải chuối, tôi vốn không thích chuối nên lắc đầu, anh bẻ hai quả đưa tôi một, bỏ phần còn lại cùng những con cá khô vào trong tay nải. Anh ngồi ăn chuối và hút thuốc, tôi nằm dài bên cạnh, chúng tôi không nói với nhau lời nào. Trời đã xẩm tối. Thế là xong ngày đầu của cuộc ra đi lần thứ hai đến biên giới.






Sáng hôm sau, tôi đang ngủ thì Lon lắc vai tôi gọi dậy. Trời đã ửng sáng, anh bảo tôi cởi cái áo lính đưa cho anh để anh cúng. Xong anh đưa lại cho tôi mặc vào và chúng tôi lên đường. Đi chưa đầy mười lăm phút thì chúng tôi đên con sông cạn mà tôi đã thấy từ trên cao, chúng tôi băng qua con sông đó dễ dàng, đi trong nước cao đến mắt cá chân. Chỉ vài tháng nữa là con sông này sẽ đầy ắp nước vì mùa mưa sắp đến, trời sẽ mưa như thác lũ, nước sẽ từ trên sườn núi đổ xuống. Cũng may mà chưa phãi mùa mưa, nếu không làm sao mà chúng tôi đi như vầy được?


Suốt ngày hôm đó, chúng tôi cứ đi theo những con đường đầy sỏi đá trên sườn đồi cao mà không gặp ai khác. Có thể những kẻ buôn lậu không còn dùng những con đường đó vì đã bị lộ hay họ đi ban đêm, ban ngày rút vào rừng để tránh bị chặn bắt?


Tôi nghe kể lại rằng những tay đi buôn những hàng cấm phải đi đường rừng, thồ hàng trên xe đạp hay vác trên vai, đưa hàng về những làng xa xôi cất dấu. Người mua đến những nơi đó lãnh hàng mang về. Buôn như thế không phải qua các trạm kiểm soát, không bị xét hỏi, và nhất là không phải đóng thuế và không phải đút lót cho bộ đội, như vậy tuy khó nhọc nhưng lời hơn nhiều.


Cứ độ hai giờ đi thì chúng tôi lại nghỉ mười lăm phút, nhiều nơi cây cỏ đả trở lại xanh tươi nhờ đã có những cơn mưa hay sao đó. Chúng tôi đi chậm hơn ngày hôm qua vì nhiều lần chúng tôi đi nhầm đường, đi vào những con đường bí không có lối thoát, rồi phải đi trở lại. Lon không dám đi vào những vùng chưa có vết chân hay vết xe đạp vì anh nói có thể đạp phải mìn chết. Anh nói rất nhiều người gan lì đi vào những vùng chưa có ai đi trước và không may mìn nổ chết có, què chân có. Đi buôn qua đường rừng phải liều mạng như thế, kiếm tiền đôi khi phải trả cái giá quá cao là mạng mình. Sau này khi ở Thái Lan tôi đọc báo thấy nói không ngày nào mà không có hàng chục dân Miên dẫm phải mìn chết hay bị thương, thật là một hoàn cảnh khốn nạn cho những người dân sống tại những làng vùng giáp giới với đất Thái.


Chiều đến chúng tôi nghỉ tại một khu rừng thưa trên một sườn đồi thoai thoải nhìn xuống một vùng đồng bằng xa tuốt đến tận chân trời. Tôi cố nhìn xem có thấy thị trấn Xi xô phon hay không mà chẳn thấy bóng dáng nhà cửa nào hết. Như vậy là chúng tôi còn xa lắm, không như dự đoán của Lon. Tôi thấy trong bụng cũng hơi lo vì trong lòng chỉ muốn mau đến biên giới. Lon leo lên ngọn một cây cao nhìn xuống bốn phía, lúc anh xuống tôi hỏi anh có thấy làng mạc nào không, anh nhăn mặt lắc đầu, làm cho tôi hơi thất vọng.


Chúng tôi ăn mấy nắm cơm với cá khô, rồi nằm nghỉ. Trời nóng nhưng không gay gắt như trên những cánh đồng hoang, có lẽ vì cây cối hấp thụ bớt hơi nóng và ánh sáng mặt trời. Tôi hỏi Lon đưa cho tôi bi đông nước, anh lại nhắc tôi uống ít thôi, sợ hôm sau không còn nước uống. Thế là hết ngày thứ hai. Trong lúc đi đường tôi chỉ biết cặm cụi đi, không bận tâm suy nghĩ gì. Chiều về nằm dài ra nghỉ, tôi đã quá mệt, chỉ mới đặt lưng xuống là cơn ngủ đã xâm chiến hồn tôi, tôi không còn biết gì nữa.






Ngày hôm sau, khi tôi tỉnh dậy thì mặt trời đã cao, nhìn quanh quần không thấy Lon đâu hết, tôi đã đâm hoảng. Tôi đã quá mệt và đã ngủ như chết, không còn biết trời đất gì. Mới có hai ngày mà tôi đã như vậy, tôi tự hỏi liệu tôi có đi nổi đến biên giới hay không. Tôi đi loanh quanh xem có Lon ở đâu đây hay không, nhưng không thấy anh, tôi đành đứng đó chờ. Tôi cảm thấy bồn chồn vô cùng, vừa lo vì không biết chuyện gì đã xẩy ra, vừa sợ lỡ bấy giờ mà có ai bắt gặp thì biết đường nào mà mò?


Chờ cả tiếng, tôi đâm sốt ruột, tính đi tới xong lại thôi vì sợ lỡ Lon trở lại không thấy thì làm sao mà tìm? Trăm câu hỏi quay cuồng trong óc tôi làm tôi điên đầu. Lát sau đó Lon trở lại, tôi vừa mừng vừa tức, hỏi anh đã đi đâu, anh trả lời đi tìm người để hỏi thăm lối đi. Tôi hỏi anh có gặp ai không thì anh nói không làm tôi càng lo hơn. Tôi nói “mày không biết đường đi à?” thì Lon trả lời “biết”. Anh bảo tôi đưa cái áo cho anh niệm Phật rồi chúng tôi lại lên đường.


Chúng tôi đi hơn một tiếng đồng hồ thì đến một nơi có nhiều con đường khác tụ lại, hay nói cách khác, con đường như chẻ ra làm bốn, làm năm nhánh khác nhau. Tôi thấy những vết lăn của bánh xe bò, vì có những lằn nhẳn nhụi chạy song song. Vả laị đất hơi ướt và nhưng vết đi thấy rõ hơn trong lớp bùn chưa khô hẳn. Cây cối um tùm hơn, vài nơi cành mọc lan ra và Lon đã phải lấy mã tấu phạt bớt cho có lối đi. Càng đi tới, chúng tôi càng đi sâu vào một cánh rừng thưa có nhiều cây hơn, những cây thân còn nhỏ, cành lá chưa um tùm như thể mới được trồng hay mới mọc đươc vài ba năm. Thỉnh thoảng chúng tôi nghe tiếng chim kêu, báo hiệu nơi đây có sức sống, không phải như trước đó khi chúng tôi đi qua những vùng đất chết. Những cây hoa dại thấp đến đầu gối mọc hai bên lối đi và tỏa ra một mùi hăng hắc khó chịu. Không khí có vẻ ẩm ướt hơn mặc dù trời vẫn còn nóng, nắng vẫn còn chiếu xuống từ trên đỉnh đầu.


Lon vẫn dẫn đường đi trước, anh vẫn đi băng băng, không tỏ vẻ gì là mệt cả, tôi vẫn lẽo đẽo theo sau, thở hổn hển, chúng tôi đi nhiều giờ mà không nghỉ bao nhiêu, tôi không quen nên đuối sức. Lon không còn thúc tôi đi nhanh nữa vì biết có thúc cũng vô ích, nhiều khi đến chỗ con đường đất chia đôi hay chia ba, anh đứng lại lưỡng lự không biết chọn lối nào, tôi lại đuổi kịp anh. Chúng tôi đi như thế bao nhiêu lần lòng vòng cả nửa tiếng rồi lại trở về chỗ cũ.


Lon đã tỏ ra rất kiên tâm. Anh đi lầm đường thì lại chọn đường khác đi lại, mà không tỏ vẻ mất bình tĩnh hay bực bội, tôi thì đã quá mệt để mà có phản ứng gì, trong lòng chỉ thêm lo âu là lo âu nhưng cũng không nói ra. Tôi biết là chúng tôi đã đi lạc vì chẳng thấy đến đâu, đi cả ngày mà không thấy dân cư, không thấy làng mạc, chỉ rừng là rừng, chỉ cây cỏ là cây cỏ. Lon đã hai lần leo lên cây nhìn xung quanh để tìm lối đi ra khỏi khu rừng, nhưng khi anh xuống, tôi không thấy anh có vẻ gì là phấn khởi, và như thế là chúng tôi đã kẹt cứng không tìm được, hay chưa tìm được lối ra.






Tôi ngồi ở gốc cây bị muổi cắn vào cổ, vào mặt thật là khó chịu. Tôi đã nghe nói rằng trong khu rừng này nhiều người đi vượt biên đã bị chết đói, chết khát vì không tìm đươc lối ra, tôi không hiểu Lon đã nghĩ gì mà anh lại đưa tôi vào đấy. Nhưng bây giờ đã quá muộn để tra vấn anh, chỉ làm anh thêm rối trí, chỉ làm vấn đề thêm phức tạp, không giúp ích gì, không đi đến đâu. Tôi nghĩ lúc này tốt nhất là để anh yên, để anh sáng suốt tìm cách gỡ rối. Tôi vốn dĩ hay nổi nóng, hay bực tức, nhưng vào cái lúc đó tôi đã biết tự kiềm chế, tôi đã biết dùng lẽ phải và chính vì thế mà sau cùng chúng tôi đã thoát, Lon đã thương tôi đến cùng, đã cứu tôi khỏi chết, vì như anh đã nói, tôi không thể chết được, tôi còn đứa con phải đi tìm. (“Toi pas mourir! Garçon attendre toi”)


Chiều về chúng tôi tìm đươc một nơi bằng phằng giữa những bụi cây um tùm. Lon lấy con dao phạt bớt những cành lá ở giữa, tạo thành một lỗ trống lớn. Chúng tôi chui vô đó ngồi ăn hai nắm cơm và mấy quả chuối cau còn lại rồi nằm đó nghỉ. Tôi cũng không thấy đói cho lắm, chỉ thấy khát, nhưng bi-đông nước đã cạn, Lon không cho tôi uống bảo để dành hôm sau. Đôi chân tôi mỏi rời, bàn chân đi nhiều đã bắt đầu sưng lên, đau nhức một chút. Người tôi ê ẩm, tôi nằm đó nghĩ đến những khó khăn của ngày hôm sau mà thấy nản. Ba ngày rồi, chúng tôi đi mà không thấy dấu tích gì của thị trấn Xi xô phon. Tôi không biết những lời cầu nguyển của Lon và cả của tôi có ứng nhiệm hay không, mà sao chúng tôi cứ ở luẩn quẩn trong cái rừng này?






Rồi một ngày nữa lại đến, mặt trời lại mọc, ánh sáng lại chiếu xuống trên đầu tôi xuyên qua những cành lá xung quanh, làm tôi tỉnh dạy. Lon đã ra ngoài và đang ngồi ở một gốc cây hút thuốc. Thấy tôi lồm cồm bò ra, anh nhìn tôi hỏi “toi dormir bien?” (mày ngủ ngon không?), tôi chỉ gật đầu. Anh lại bảo tôi cởi cái áo ngoài ra đưa cho anh, anh lại treo nó lên, rồi lại quì xuống lậm bẩm khấn . Tôi cũng như cái máy tự động, cũng đọc nhẩm cái bài kinh cứu khổ, đọc tới đọc lui, khi anh khấn xong thì tôi cũng ngưng.


Hồi xưa khi còn nhỏ, tôi hay đếm xem tôi đọc được bao nhiêu lần, nhưng lúc ấy đầu óc tôi bị chi phối bởi những ý nghĩ gì tôi không biết, miệng tôi đã chỉ nhấp nháy mà không thật chú tâm vào những lời kinh mà tôi đọc và tôi cũng đã chẳng đếm bao nhiêu lần.


Không biết có phải do bản năng sinh tồn hay không, tôi bảo Lon đi ngược trở laị con đường chúng tôi đã đi hôm trước. Dường như anh cũng đang bị dồn vào chỗ bí, chưa biết phải làm gì


nên khi nghe tôi nói anh đồng ý. Thay vì đi tới chúng tôi đi ngược trở lại con đuờng đã đi hôm


qua, nhưng đi một lúc, những dấu vết chằng chít theo những ngả khác nhau làm cho chúng tôi


bối rối không còn biết lối nào mà chọn. Vết chân người đi lẫn với vết chân bò và vết bánh xe đạp, vết bánh xe bò tạo thành những những hình ảnh rối mù dẫn đi ba bốn phía, chúng tôi không còn biết lối nào mà mò. Lon cũng tỏ ra bối rối và anh nhìn tôi, tôi nhìn anh, chẳng ai trong chúng tôi biết phải làm thế nào lúc đó. Cuối cùng anh cứ chọn đại một lối mà đi, nhiều khi đi quanh rồi nó lại đưa đến một lối khác, chúng tôi cứ đi như thế giờ này sang giờ kia, rồi mệt quá, tôi đòi anh nghỉ chân, chúng tôi ngồi nghỉ chưa khỏe, anh đã lại bảo phãi đi tiếp, tôi loạng choạng theo anh, cứ như thế suốt buổi sáng rồi đến hết buổi trưa hôm ấy. Cơn khát và hơi nóng mà ẫm của vùng đó làm tôi mất sức nhanh chóng. Chúng tôi chẳng bao lâu không còn nước uống mà không tìm đâu ra một con sông hay một con suối! Lon cũng đã tỏ vẻ thấm mệt nhưng anh còn khá hơn tôi nhiều.






Đến lúc xế chiều thì chúng tôi đã đến một vùng ít cây cối um tùm hơn, và tôi biết chúng tôi đã may mắn thoát được ra khỏi khu rừng thưa. Con đường mòn đã khô ráo hơn và tôi thấy chỉ còn những vết chân người đi và vết bánh xe đạp, rồi từ từ chúng tôi thấy con đường lại lên dốc và có nhiều sỏi đá, không còn cây cỏ trên lối đi nữa và tôi biết chúng tôi lại đang đi trên một sườn đồi. Tôi đã mệt lả, đi chưa tới nửa tiếng lại phải xin Lon nghỉ, và khi anh dục tôi đi thì tôi vẫn không muốn đi. Chúng tôi không còn nước để uống và trời nóng như thiêu như đốt làm tôi mệt vô cùng. Lon đi vòng quanh thò tay xuống gốc những bụi cây vặt một dúm những chiếc lá xanh tươi nho nhỏ mang lại trước mặt tôi bỏ vào miệng nhai lấy nước, nhổ bã đi và anh bảo tôi làm như anh. Tôi nhai thấy chua chua, nuốt tí nước đó mà thấy dễ chịu trong người. Rồi chúng tôi lại đi tiếp.


Đến chiều hôm ấy, khi mặt trời đã gần tàn thì từ trên ngọn cây Lon đã thấy một ngôi làng nhỏ. Anh vui mừng nhẩy xuống, kéo tay tôi đi cho nhanh. Chúng tôi đi thêm khoảng nửa tiếng nữa thì vào đến nơi đó. Lon leo lên chiếc thang tre chui vào trong căn nhà sàn đầu tiên chúng tôi thấy. Một cụ già Miên ra nói chuyện với anh, rồi bảo anh vào. Môt lúc sau Lon và bà cụ xuống, tôi được cho uống nước và khi tỉnh táo, được bà cụ cho một nắm cơm trên miếng lá cây trong có con cá khô nhỏ bằng hai ba đốt ngón tay. Tôi ăn ngon lành.


Đêm đó chúng tôi ngủ ngay nơi chiếc sân sau nhà. Tôi đã quá mệt để ý thức những gì xẫy ra xung quanh tôi, tôi chỉ biết nằm xuống và ngủ đi lúc nào không biết.






Hôm sau, ngày thứ năm của cuộc ra đi lần thứ hai lên biên giới, Lon cho tôi hay chúng tôi đang ở một vị trí đông bắc của Xi xô phon và chỉ còn khoảng năm mươi cây số nữa thì đến biên giới. Anh nói trong khi tôi ngủ anh đã đi hỏi đường đi, và chỉ hai hôm nữa thì tôi sẽ ở Thái Lan. Nghe vậy, tôi thấy phấn khởi và muốn lên đường đi liền. Anh bảo tôi ở đó chờ anh đi xin cơm và nước. Chừng mươi phút sau anh trở lại, và sau khi treo cái áo lên và cầu nguyện xong thì chúng tôi đi.


Khi qua cái làng nhỏ chỉ có chừng sáu bẫy căn nhà sàn làm trên những cột tre cao hơn mặt đất khoảng một thước, trên người ở, dưới nuôi xúc vật như gà vịt heo, tôi không thấy đàn ông mà chỉ thấy đàn bà và con nít chạy chơi quanh đó. Tôi đoán chừng họ đã đi buôn nơi biên giới hoặc đi vô rừng từ sáng sớm. Những con chó gầy gò thấy chúng tôi đi qua sủa inh ỏi. Tôi thấy nhà nào cũng có cả chục chum lớn, có nắp đậy, để chứa nước uống.






Chúng tôi đi chừng hai tiếng đồng hồ thì đã vào vùng rừng âm u với những cây cao cả ba bốn chục thước và cây cỏ mọc um tùm. Tôi đoán chừng đấy là vùng do bọn khờ me xanh hay đỏ kiểm soát vì tôi đã được kể nhiều về khu rừng ghê gớm này, nơi có bọn cướp sinh sống bằng nghề chặn những con buôn ăn tiền mãi lộ, chặn những kẻ như tôi đi tìm tự do để lột hết vàng bạc và những gì quí giá, hãm hiếp đàn bà con gái, khu rừng có mìn rải khắp nơi đã làm banh xác bao nhiêu kẻ đi qua đó mà lại vô phúc dẫm phải để phải chết không kịp ngáp, chết tức tưởi, chết để rồi xác văng ra từng mảnh tứ tung không ai nhặt, nằm đó rữa thối làm phân bón cho cây cỏ. Nghĩ đến đó tôi rùng mình. Rồi thân phận tôi ra sao đây? Liệu tôi có được Trời Phật phù hộ để tôi được tai qua nạn khỏi, đi thoát cái vùng đầy hồn ma chết oan ức này không? Hay là số phận tôi cũng sẽ phải gia nhập cái cộng đồng quái quỉ đó?


Lon không tỏ vẻ sợ sệt gì cả. Anh hăng hái bước phăng phăng, tay cầm con dao mã tấu, mắt nhìn về phiá trước như thể biên giới đã ngay kia rồi, chúng ta hãy đi mau đi thôi. Tuy hồ hởi


hơn những bữa trước, nhưng lại bị ám ảnh bởi những ý nghĩ kinh hoàng trên, tôi bước theo anh miển cưỡng, như thể nửa muốn tới, nửa muốn lui. Nhưng giờ đó còn lui sao cho được? Có thật muốn lui, Lon cũng không cho, vì anh đã quyết tâm hoàn thành cái công tác mà tôi đã ủy nhiệm cho anh từ lúc ban đầu, từ lúc anh nhận hai chỉ vàng từ tay Hai Học.


Hơn nữa, tôi nghĩ anh đã được Trời Phật trao phó cho cái nhiệm vụ cao quí này, Trời Phật đã nói với anh rằng anh đang làm một việc công đức chứ không phải vì tiền. Vì tiền có là bao nhiêu, khi bạn anh đã bị bắn chết, những người trong nhóm tôi đã bị tóm bắt hết, và thằng Hinh dường như cũng đã toi mạng. Thật là một cuộc ra đi khốn nạn, không như lời Hai Học khoe khoang láo khoét. Hắn chỉ ngồi ở Saigon, Nam Vang hay Bát Tam Băng mà tưởng tượng ra những gì tốt đẹp, những gì hay ho, có biết đâu chúng tôi mới là những kẻ dấn thân, mới chịu hiểm nguy, mới phải sợ.






Bấy giờ tôi mới thực sự bước chân trên những con đường chằng chịt những dấu lăn bánh của những xe bò chở gạo nặng chĩu, những vết bánh ăn sâu xuống đất bùn nay đã khô, chạy vòng vo dài vô tận. Tai khu rừng này có bao nhiêu những con đường xe bò lăn, bao nhiêu đường xe đạp thồ hàng đi qua, tôi không biết, nhưng chắc hẳn phải nhiều lắm, vì dân Miên từ bao nhiêu nơi khác nhau đổ về biên giới để buôn hàng hay mua gạo đem về. Tôi tự hỏi dọc theo cái biên giới dài hàng trăm cây số có bao nhiêu giao điểm như Nông chan, nơi các con buôn tụ tập lại làm ăn? Sau này tôi cũng chẳng có hơi sức đâu để mà tìm hiểu, tôi đã thoát nạn, tôi đã qua một giai đoạn mới của cuôc đời mình, tôi đã có những vấn đề khác để bận tâm suy nghĩ, đâu còn tha thiết gì đến quá khứ, nhất là cái quá khứ đau thương ấy?


Như thế chúng tôi càng đi sâu vào, thì rừng càng âm u, không còn cái nóng như thiêu như đốt nữa, mà từ từ là cái man mát, rồi sau đó là cái lành lạnh nhất là khi chiều về, nắng đã nguôi, mặt trời đã bắt đầu lặn dần. Tôi chưa quen vói cái lành lạnh đó vì những ngày trước đó, tôi chỉ biết có cái nóng cháy da cháy thịt, nên tôi có một cảm giác là lạ, không phải là một cảm giác dễ chịu hay khó chịu, mà là một cảm giác ghê ghê, như có cái gì cứ chạy nơi cột xương sống của tôi, rừn rựt rừn rựt. Tôi không biết đó là một tác dụng vật thể hay là một hiện tượng gây ra bởi cái óc tưởng tượng của tôi?






Khi chiều về thì hai chân tôi mỏi rời, hai bàn chân đau điếng, tôi ngối xuống một gốc cây ôm đôi bàn chân mà bóp, tiếc rằng mình đã không bỏ túi chai dầu nóng khi đi khỏi Bát Tam Băng. Chúng tôi không còn đi nhanh như những ngày đầu, có lẽ chỉ đi được khoảng mười lăm hai chục cây số ngày hôm đó vì tôi đòi nghỉ nhiều và lâu. Tôi thấy sức tôi đã yếu đi nhiều, đi nửa tiếng là đã muốn nghỉ, đi rất chậm, gần như không còn muốn bước tới. Lon cũng mệt nhưng không đến nổi như tôi. Tôi không hiểu tại sao trời lành lạnh mà tôi vẫn đổ mồ hôi, không đổ nhiều nhưng cũng đủ đẽ ướt áo sơ mi bên trong làm cho tôi cảm thấy lạnh hơn lúc ngồi nghỉ. Lon và tôi ngồi dưới một gốc cây lớn, cao cũng đến năm chục thước, chắc sống đã trăm năm rồi, vỏ cây sần sùi, rể mọc trồi trên mặt đất lan ra xa. Lon lấy hai nắm cơm anh xin được hồi sáng và chúng tôi ăn để lấy thêm sức. Chúng tôi nghỉ cả tiếng đồng hồ, và tôi thấy trời đã hơi tối tưởng sắp được đi ngủ thì Lon nói với tôi là phải đi tiếp cho đến tối hẳn mới nghỉ đêm. Anh giải thích là chúng tôi đang đi vào khu có lính khờ me xanh đỏ gì đó trấn đóng và họ hay ra kiểm soát từ sáng sớm tinh sương đến trưa, lúc mà con buôn đi ngang. Do đó, từ ngày hôm sau trở đi, chúng tôi sẽ chỉ đi vào buổi chiều và tối đêm, ngày sẽ nghỉ để tránh được cả cướp lẫn lính.


Thế là chúng tôi lại đi tiếp, vẫn thế, vẫn những con đường lòng vòng trong rừng già, vẫn những vết bánh xe bò ăn sâu xuống đất, những vết chân người đi và những vết bánh xe đạp. Lon vẫn đi đằng trước tôi, tay vẫn cầm con dao dài có cái lưỡi cong tròn, tôi vẫn lẽo đẽo sau anh.


Chúng tôi đi cho đến khi bóng tối phủ xuống, cánh rừng thêm âm u, có những tiếng sột soạt của những con thú bò hay chạy đâu đó gần nơi chúng tôi, rồi bổng nhiên những cây lớn thưa dần, các bụi cây được thay thế bằng những cây cỏ lau thân to bằng ngón tay có bông dài trắng như tóc bạc, cao gần đến đỉnh đầu. Những vết bánh xe bò đã biến mất từ lúc nào tôi không hay, chỉ còn những vết chân người đi, nhiều vết chân hơn trước. Tôi hỏi Lon đi có đúng đường không,


vì tôi ngờ ngợ con đường này không dẫn đến biên giới, nhưng Lon cứ lầm lì tiến tới, nhiều chỗ


phải phạt những cây cỏ non mọc cao đến gần đầu gối. Tôi thấy cỏ mọc như vậy tức là con


đường mòn này đã lâu không có người đi và nếu cứ đi tới chúng tôi có thể sẽ lạc, mất thì giờ đi trở ra. Lúc ngồi nghỉ mệt, tôi nói với Lon rằng có lẽ mình không đi đúng đường, nhưng anh vẫn không nghe.


Quả nhiên, chúng tôi đi thêm nửa tiếng nữa thì đến một khu đất bằng có năm sáu căn nhà lá nay bỏ hoang, không biết là nơi dừng chân của bọn buôn lậu, bọn cướp, hay lính khờ me đỏ. Trời đã tối đen, chúng tôi đành ngủ qua đêm trong một căn nhà hoang nơi đó. Khi tôi nằm trên một đống lá khô ngủ, Lon còn ngồi ở ngưỡng cửa vấn thuốc hút.






Ngày hôm sau, ngày thứ sáu trong cuộc hành trình này, tôi thức dây trong sự mệt mỏi của cả thể xác lẫn tinh thần. Nếu theo đúng sự tính toán của Lon thì giờ này đáng lý ra tôi đã phải ở Nong Chan rồi. Tôi không hiểu rồi Lon có đưa tôi được đến biên giới hay không và tôi nghi rằng đây là lần đầu tiên anh đi theo lối cắt rừng như thế này, những lần trước anh chỉ đi theo con lộ, nơi những con buôn chân chính đi.


Suốt từ mấy hôm chúng tôi có gặp người nào trên lộ trình chúng tôi đi đâu? Những kẻ đi buôn lậu có lẽ bây giờ cũng không còn đi theo lộ trình mà chúng tôi đi nữa? Hay Lon đã mơ ngủ, anh đả không đi đúng đường? Hay bây giờ những tay buôn lậu đã dùng lộ trình khác? Tôi nghe nói họ đi từng toán cả chục người và thường đi theo những lộ trình khác nhau để tránh bị chặn bắt. Họ là những tay chuyên nghiệp, họ biết khu rừng vùng biên giới này như bàn tay họ, không bao giờ lạc, họ biết nhìn phương hướng mà đi. Lon không biết khu rừng này như họ, anh đã phải đi hỏi dọ đường đi, anh leo lên cây để nhìn đằng xa và đoán nơi chúng tôi đang ở là nơi nào, nhưng nhiều khi chẳng thấy gì. Tôi thấy anh vẫn bình tĩnh khi đi lạc, và hy vọng anh là dân địa phương, có thể mần mò mà tìm đường ra.






Lon có sức chịu đựng tốt. Tôi coi to con hơn anh, coi khỏe hơn anh nhưng không có sức chịu đựng dai như anh. Đến hôm nay tôi đã thấy suy yếu nhiều lắm, hai chân đã sưng vù vì đi nhiều, sức thì không còn đủ để đi cả tiếng đồng hồ nữa. Nếu không mau đến Nông Chan chắc tôi sẽ không bao giờ thấy nơi đó, tôi sẽ bỏ xác nơi rừng này như bao nhiêu kẻ khác, những kẻ giống tôi đã không biết đến những khó khăn của cuộc ra đi này, đã tưởng rằng ngon sơi, đã mù quáng dấn thân để rồi lúc sáng mắt ra thì đã quá trễ.


Tôi đứng dậy, loạng choạng bước ra cửa. Tôi không thấy Lon đâu hết, có lẽ anh lại đi dò đường. Nay thì tôi đã quen sự thể này. Anh thường để yên cho tôi ngũ trong khi anh đi thăm dò hoặc đi tìm ai đó để hỏi đường đi.


Mặt trời đã lên cao, chắc chẳng bao lâu nữa là giữa trưa. Từ hôm xa rời Saigon, tôi không còn ý niệm chính xác về giờ giấc nữa. Tôi đã không có một chiếc đồng hồ để coi giờ. Sau này, khi ở trại chuyển tiếp có cái tên là Pa nát ni com tăng dít xen tơ (Panat Nikhom Transit Center), trước khi đi đảo Ga Lăng bên Nam Dương, tôi đã mua lại được một chiếc đồng hồ Xây cô phai (Seiko Five) tự động. Tôi đã cảm thấy sung sướng có được nó, cứ đeo nó ở tay suốt ngày đêm, lâu lâu lại dòm giờ cho đáng đồng tiền, vì tôi đã phải nhịn cà phê thuốc lá mới mua được nó.






Xung quanh tôi , không một tiếng động, không tiếng chim hót, không tiếng gió thổi qua cành lá, không tiếng sột soạt của lá cây khô, tất cả đều yên lặng, cái yên lặng của cỏi chết. Thật là một thế giới bất thường, bất thường vì không có tiếng nói tiếng cười của con người, không có tiếng chó sủa, tiếng gà kêu cục tác, hay tiếng chíp chíp của chim kêu, không có tiếng rào rạc của cành lá rung chuyển, thật là một thế giới bất động, một thế giới chết. Ngồi một mình nhìn cánh rừng thưa xa đến bất tận, tôi có cái cảm giác bị cô lập, bị bao quanh bởi một thế giới của những thực thể vô hình, những bóng ma, những hồn người đã chết nơi đây. Tôi không cảm thấy sợ hãi, trái lại tôi thấy như tôi đã đồng lõa, đã chấp nhận là một thành phần của cái thế giới đó. Không biết tôi có mê sảng, có nằm mơ, có chìm đắm trong một cơn bất tỉnh hay không mà đầu óc tôi lại có những ý tưởng lạ lùng, cơ thể tôi lại có những cảm giác bất thường như thế. Tôi đã chỉ ngồi nhìn cảnh vật xung quanh, nhưng lại tưởng mình nhìn vào cõi chết! Thật là quái dị, không thể tưởng tượng nổi!






Rồi tôi thấy một bóng người hiện ra trước mắt, nghe một lời nói mà tôi đã không nhận thức


được toàn diện, và tôi đã tỉnh lại. Lon đứng trước mặt tôi, hai tay buông xuôi, tay bên mặt cầm


con dao to lớn. Anh bảo tôi chuẩn bị lên đường. Tôi có gì đâu để mà chuẩn bị? Có lẽ anh muốn nói chuẩn bị tinh thần? Có lẽ vậy. Tôi cũng không hỏi anh lúc nãy anh đi đâu, như thể chuyện anh làm không liên hệ gì đến tôi nữa. Tôi vẫn theo anh, nhưng tôi thấy tôi đã từ từ tách khỏi anh, không phải về mặt thể xác nhưng về mặt tâm thần. Tôi đã bắt đầu sống cho riêng tôi, sống cho cái nội tâm đang dâng lên, xâm chiếm tâm hồn. Không biết cái gì đã làm tôi thay đổi nhanh chóng như vậy? Cái gì đã ám vào đầu óc tôi làm cho tôi trở nên như điên như dại?


Chúng tôi lại ra đi, lần này đi ngược trở lại như tôi đã muốn. Như vậy là đêm hôm qua chúng tôi đã mất công toi, đi bốn năm giờ chỉ để đến cái căn nhà đó ngủ qua đêm. Hôm nay lại mất công trở lại cái gốc cây nơi chiều qua chúng tôi ngồi ăn nắm cơm để lấy thêm sức mà đi. Tôi không biết Lon còn nắm cơm nào trong cái tay nải dẹp lép của anh hay không? Tôi không thấy đói mà chỉ thấy ruột cồn cào khó chịu.






Chúng tôi đi khoảng ba tiếng trên con đường đó thì bổng nghe thấy tiếng người nói và tiếng những đôi chân bước đi nặng nề, dọng xuống nền đất. Lon đang đi, dừng lại và giơ tay báo hiệu cho tôi trốn vào trong bụi rậm bên đường. Tôi chui vào đám cỏ lau và ngồi xuống. Lon đã đứng ẩn mình sau thân một cây lớn. Chừng năm phút sau tôi thấy một toán người Miên mặc đồ đen, đeo khăn choàng cổ đỏ, người thì cầm AK, kẻ thì đeo B40, B41 trên vai, đi trên con đường mòn cắt ngang con đường chúng tôi đang đi. Họ đi hàng một, đếm ra cùng phải gần hai chục người, vừa đi vừa lâu lâu hô một khẩu hiệu gì, tôi không hiểu. Khi họ đã đi qua khoảng năm phút, thấy yên tĩnh trở lại, tôi chui ra. Tôi hỏi Lon họ là ai, thì anh nói khờ me đỏ. Như vậy là chúng tôi đã đi quá về phiá bắc của Xi xô phon, vì tôi nghe nói khờ me đỏ kiểm soát vùng phiá bắc còn khờ me xanh kiểm soát vùng phiá tây nam. Nói thì nói thế chứ đi trong khu rừng này, tôi chẳng biết nam bắc đông tây là hướng nào, và tôi không biết Lon có biết hay không. Tôi chỉ biết anh hay leo lên cây nhìn tứ phiá, không biết để định hướng hay để tìm xem nơi nào có dân cư. Nếu không tìm được nơi có dân ở, chúng tôi sẽ phải nhịn ăn và sẽ kiệt sức. Và nước cũng không có mà uống. Đã mười mấy giờ tôi chưa có giọt nước nào vào cổ họng, miệng lưỡi tôi đã khô, nhai lá cây chỉ thấm họng được vài ba phút, vả lại không phải chỗ nào cũng có thứ lá mình có thể nhai được.






Thế rồi tôi đang đi thì bổng nhiên tôi thấy choáng váng mặt mày, người tôi lảo đảo, tôi cố buớc theo Lon nhưng chân tôi không còn vững nữa. Tôi loạng choạng bước thêm được vài bước rồi té xuống. Tôi không bất tỉnh vì tôi thấy Lon, lúc đó cách tôi khoảng mươi thước, tiếp tục bước tới. Anh đã không nghe thấy tiếng tôi gọi anh, vì quá xa hay vì tôi kêu quá khẽ? Và tôi thấy anh cứ bước đi, rồi một hai phút sau, anh đã biến mất vì con đường cong queo không cho tôi thấy xa hơn. Đầu tôi vẫn quay cuồng, tôi gắng bò dậy để đứng lên nhưng không được, tay tôi lúc đó quá yếu để chống đỡ tôi dậy, tôi đành cứ nằm đó để rồi xem sao.


Chừng mười phút sau đó tôi thấy anh trở lại, thấy tôi nằm dưới đất, anh ngồi xuống bên tôi, bỏ cây đèn pin và con dao cầm trên tay xuống, rồi đưa tay sờ lên trán tôi. Anh hỏi tôi “ça va?” (mày có sao không?), tôi lắc đầu khe khẽ. Anh đứng dậy, cầm con dao mã tấu, tiến đến bên đường, phạt những cây cỏ lau, mở một khoảng trống bằng cái giường, lấy những cây cỏ mới phạt phủ lên mặt đất. Rồi anh ra chỗ tôi đang nằm, sốc tôi dậy, kéo tôi lại đó, để tôi nằm trên đống cỏ dại.


Anh nói “Toi coucher ici” (Mày nằm đây) rồi anh đi đâu mất. Lúc đó trời đã về chiều, ánh sáng


không còn gay gắt như lúc trưa. Tôi nằm đó chưa được năm phút thì đã chìm vào hôn mê.






Lúc Lon nâng đầu tôi lên và đổ nước vào miệng tôi, thì trời đã sáng. Sau đó anh kéo lết tôi qua những đám cỏ cao vào sâu bên trong, cách xa con đường đi cả trăm thước, rồi thả tôi nằm đó. Tôi vẫn nửa tỉnh nửa mê, thấy Lon cũng nằm xuống bên tôi, và sau đó tôi đã lại chìm vào giấc ngủ. Tôi đã ngủ như thế suốt một ngày trời, không còn biết những gì đã xẩy ra xung quanh tôi. Lúc tôi tỉnh dậy, thì trời đã về chiều, Lon cho tôi uống thêm nước, rồi anh dìu tôi đứng dậy, đi đến một gốc cây nhỏ gần đó, và anh để tôi ngồi xuống. Gần nơi đó, tôi thấy có một đống lửa nhỏ đã tàn do Lon đốt để nướng những củ khoai lang to bằng ba đốt ngón tay chụm lại. Anh lấy cả chục củ ra ngồi bên tôi và chúng tôi ăn cả vỏ lẫn đất ngon lành. Tôi không biết anh đả kiếm được khoai ở đâu, nhưng đoán chừng anh đã đào chúng một nơi nào đó. Sau này, khi ở NW9, tôi nghe nhiều người cũng đi lạc như tôi kể lại rằng họ đã kiếm được những củ khoai mì to


bằng bắp vế trong cánh rừng đó. Họ nói lính khờ me đóng quân ở đâu thì họ trồng khoai lang và khoai mì ở đó, và khi họ rút quân đi thì họ đào không hết củ mang theo, và với thời gian những cây khoai đó vẫn mọc dại ở những nơi đó. Tôi nghĩ may mà Lon tìm được ít khoai ăn.






Những ngày sau đó là những ngày tôi không nhớ rõ tôi đã đi những đâu, làm những gì. Các hình ảnh tôi còn ghi lại trong ký ức chỉ là những hình ảnh mờ mờ ảo ảo, mà trong lúc ở trong cơn nửa hôn mê, nửa tỉnh tôi còn thấy được, có lẽ một phần là vì đó là những hình ảnh kinh hoàng, những hình ảnh ghê rợn lúc bình thường đã làm tôi sởn tóc gáy, nổi da gà. Sức tôi đã ngày càng suy giảm, tôi không còn đi đươc quá hai ba cây số mỗi ngày. Lon nói với tôi chỉ còn chừng hai mươi lăm cây số nữa thì đến Nông Chan, hai mươi lăm cây số cuối cùng trước khi đến biên giới, nhưng lại là hai mươi lăm cây số nguy hiểm nhất vì nhiều mìn chôn nhất. Mà tôi thì lại không còn sức mà đi, cứ đi độ trăm bước lại muốn gục xuống, lại muốn nghỉ. Lon cứ luôn miệng nhắc tôi “Toi dois aller. Garcon attendre toi!” (mày phải tiếp tục đi, con mày đang đợi mày). Tôi lại nghĩ đến cháu bé, tôi lại cố đứng dậy bước tới, đi được trăm thước lại loạng choạng, lại té.


Bao nhiêu lâu chạy xích lô, vận động thể xác chuẩn bị cho cuộc đi này mà sao tôi vẫn chưa sẵn sàng, sao tôi vẫn không đủ sức đi tới cùng? Tinh thần sắt đá của tôi đâu? Ý chí thúc đẩy tôi đi kỳ cùng, đi cho tới vùng tự do để còn cứu vãn gia đình tôi đang còn ở lại, cũng cái ý chí thúc tôi chạy thoát ở Xi xô Phon, chạy thục mạng, cái ý chí đó, cái nghị lực đó đâu?


Óc tôi đã nghĩ đến đầu hàng, đến bỏ cuộc, đến buông xuôi hai tay, nằm xuống. Nếu không vì hình ảnh đứa con tôi bị lạc, hình ảnh cháu bé đang mong đợi tôi, thì thật sự tôi đã thôi không còn muốn đứng dậy nữa.


Tôi đã từng bảo Lon thôi cứ để tôi ở đó mà đi về nhà với vợ con đi, nhưng anh không chịu, anh nói một cách thành tâm “toi arriver xiam, toi heureux” (mày sang Thái, cuộc đời mày sẽ sung sướng). Tôi không hiểu có cái gì buộc tôi vào với anh, làm anh không thể rứt bỏ tôi được.


Luơng tâm? Tinh thần trách nhiệm? hay một sức mạnh siêu hình? Anh chẳng tin ở Trời Phật là


gì? Riêng phần tôi, tôi tin rằng Trời Phật đã phù hộ tôi, đã đưa tôi đến với anh vì tôi biết, một người dẫn đường khác chắc hẳn đã bỏ rơi tôi lâu rồi, vì giúp tôi có được cái giải gì? Nhưng Lon là một con người bất thường, anh xốc nách tôi lên, kéo tôi lết đi, anh nhất định không để tôi chết, anh không cho tôi đầu hàng.






Anh đã kéo tôi như vậy qua những con đường sình lầy, đã có hàng trăm xe bò lăn qua, nơi tôi đả thấy xác người thối rữa, nằm loả lồ, mắt trợn ngược, không có ai đến lấy về chôn hay những cái sọ trắng hếu bên đường đi, không thấy những xương khác đâu, cái sọ đã lìa thân, vết tích của một vụ “cáp duồn” hay chặt đầu rất thường xẫy ra bên Miên. Tôi đã bao nhiêu lần ngồi bên một hốc đá hay một thân cây chờ Lon hàng giờ để anh đi hái trái cây hay đào củ về ăn, tôi đã nhìn anh thả cái khăn choàng xuống chỗ xình lầy để thấm nước rồi vặn khăn vắt nước vào bi đông, để rồi chúng tôi cùng uống cái nước có mùi hôi tanh ấy cho đỡ khát.


Những đêm nằm ngủ ở khu rừng ấy tôi đã nghe thấy đủ thứ tiếng động, tiếng xe vận tải chạy đâu đó hàng đoàn, tiếng bộ đội Việt nam nói chuyện khi chuyển quân hay đi đánh vào những căn cứ Khờ me tự do, tiếng đại bác hay súng lớn nổ inh tai như thể ngay đâu gần đó, và lạ lùng nhất tiếng cọp gầm.


Bao nhiêu đêm ngày chúng tôi trải qua nơi đó? Sau này khi tính lại, tôi mới biết năm ngày đêm. Năm ngày đêm sống lê lết, sống chờ chết mà không được chết, sống trong sự nữa bất tỉnh, trong sự bám víu vào cuộc đời.






Đến ngày chót trong cuộc hành trình đi qua cõi chết đó, Lon tươi cười bảo tôi lắng nghe từ xa xa tiếng nhạc Miên nhộn nhịp phát ra từ những ống loa lớn. Anh bảo tôi “ toi né deuxième fois” (mày sanh lại lần thứ hai), tôi nhớ mãi câu nói ấy của anh, câu nói đầy ý nghiã, câu nói diễn tả sự chiến thắng của anh trên định mệnh của tôi. Mắt anh sáng lên khi anh nói “Nong Chan là- bas” (Nông Chan đó).


Tin mừng đó làm cho tôi khỏe hẳn lên, tinh thần tôi đanh thép lại, tôi không còn muốn chết nữa, tôi chỉ còn muốn sống, sống để được làm con người mới, để lập lại cuộc đời, để hăng hái tranh đấu trở lại như tôi đã từng tranh đấu. Đúng như Lon nói, tôi đã được tái sinh, tôi đã trở thành


một con người mới, lại phát triển từ đầu, lại xây dựng từ hai bàn tay trắng, một cuộc đời hoàn toàn mới bắt nguồn từ con số không, không phải là một sự “đổi đời” như tên anh họ tôi đã nói. Tôi hỏi anh còn bao xa, anh nói một cây số. Tôi bảo anh đưa tôi đến nơi đó. Anh nói không được, anh bảo tôi phải đi một mình, anh phãi trở về với gia đình anh. Tôi bảo anh đưa tôi đến đó rồi trở về, anh nói đến đó thì không trở về được nữa. Sau này tôi mới hiểu tại sao. Vì đến đó họ sẽ hỏi lý lịch anh, họ sẽ hỏi anh muốn đi đâu, và họ sẽ đưa anh đến Khao-I- Đăng trại tị nạn của người Miên. Vì lý do an ninh, ít ai đến đó mà lại trở về đất Miên được. Ngay cả những dân đi buôn cũng không dám đến nơi đó. Họ gặp nhau nơi nào tại Nong Chan tôi không biết, nhưng chắc chắn không phải tại cái nơi mà tôi sẽ đến, vì nơi đó có quân para đóng quân và họ kiểm soát chặt chẻ khu vực này.






Lon bảo tôi ngồi xuống nghỉ chân trước khi đi nốt chặng chót của cuộc ra đi này. Anh ngồi cạnh tôi, chỉ nhìn tôi mà không nói gì. Anh mở bi đông nước cho tôi uống thêm ngụm nước, cái thứ nước có mùi xác chết hay sao đó, nó tanh tanh, uống vào muốn nhổ ra liền. Tôi uống ngụm cuối cùng trong đời tôi, vì sau này có các tiền, tôi không dám sờ vào cái bi đông ấy, chứ đừng nói uống cái thứ nuớc đó. Tôi mấy lần đứng dậy tính bước đi nhưng Lon cứ giử tôi lại.


Lúc đó là khoảng trưa, vì mặt trời còn ở trên cao, chúng tôi đang ở trên một sườn đồi, phải đi xuống dốc thoai thoải mới đến cái nơi gọi là Nông Chan đó. Tôi hỏi Lon bênh viện do Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế thiết lập ở chỗ nào, vì tôi nghe nhiều người nói đó là nơi tiếp đón những người Việt vượt biên. Anh bảo anh không biết. Mà quả thật anh đã đến đó bao giờ đâu mà biết?






Đến lúc tôi đòi đi và Lon bằng lòng để tôi đi thì anh nhìn tôi với đôi mắt rươm rướm. Anh nói “Toi aller là-bas, toi pas besoin manteau et ceinture. Toi donner moi” (Mày không còn cần chiếc áo mưa và giây thắt lưng, mày cho tao đi). Tôi nhìn anh mà thương anh quá, bao nhiêu ngày sống chết bên nhau. Tôi đưa anh hai thứ đó và nói “Lon, tu dois aller avec moi. Nous allons en France ensemble, ou peut-être aux Etats-Unis. Je peux gagner de l’argent et tu restes avec moi” (Lon mày hãy đi với tao Chúng ta sẽ đi sang Pháp hay sang Mỹ. Tao sẽ kiếm được tiền và mày sẽ ở với tao) Anh lắc đầu “ merci toi beaucoup. Moi dois aller maison avec famille” (Cám ơn mày nhiều, tao phãi về nhà sống với gia đình). Anh cứ ôm lấy tôi.


Rồi bổng nhiên tôi nhớ đến ngón chân phải của tôi, tôi đẩy anh ra, ngồi xuống gỡ nhưng lớp băng dính dầy cộm ra. Lon chẳng hiểu tôi làm gì chỉ đứng đó nhìn. Rồi tôi kéo chiếc nhẫn ra khỏi ngón chân đã sưng phù, đưa cho anh. Anh không ngăn được sự xúc động “toi donner moi ca? Merci toi beaucoup, beaucoup!” (mày cho tao cái này ư? Cám ơn mày nhiều!). Tôi tính cởi cái áo trả lại cho anh nhưng anh bảo tôi giữ lấy để được Phật che chở.


Rồi tôi loạng choạng bước đi, không dám nhìn lại, vì tôi không muốn nhìn Lon khóc. Nhưng đi chưa được mười bước thì Lon đã đuổi theo tôi. Tôi ngạc nhiên hỏi “qu’est-ce qu’il y a?” (có


chuyện gì thế?), anh trả “Moi aller avec toi, puis moi demi-tour” (tao đi với mày rồi tao trở lại). Lon sốc nách tôi cho tôi đi. Khi còn chừng hai trăm thước thì anh dừng lại. Anh ôm tôi lần chót, thật chặt và nói “Bonne chance à toi” (Chúc mày may mắn). Tôi cũng ôm anh, nước mắt tôi lăn xuống má “Merci Lon, merci!” (cám ơn anh, cám ơn) và tôi đi băng qua cánh đồng không đến


dẫy nhà gổ mà tôi thấy bên kia chân trời.


Tôi không nhìn Lon đi trở về. Tôi không muốn nhìn về quá khứ, vì từ phút đó trở đi anh đã thuộc về quá khứ của tôi, mặc dù là một quá khứ đẹp. Tôi đợi sau này khi mọi sự đã bình yên đối với tôi, thì tôi mới âu yếm nhớ lại hình ảnh của anh, hình ảnh của một con người gầy gò, nước da đen đủi, nhưng nét mặt cương nghị với đôi mắt sáng. Anh tiêu biểu cho con người bất thường, bất thường vì có mấy ai được như anh? Tôi sẽ còn nhớ anh suốt đời, suốt đời, có lẽ cho đến khi tôi nhắm mắt.