Hồi Ký “VỀ MỘT CUỘC RA ĐI" - Giáo sư Trịnh xuân Đính: Quyết định ra đi.

Posted: Thursday, October 11, 2018 by Hung Nguyen in
0


Chương Một


Quyết định ra đi.



Đó là ngày quyết định một lần nữa đời tôi. Tôi nhớ rõ ngày hôm đó, ngày hai tháng tư năm
1981, nhằm ngày hai mươi tám tháng hai âm lịch, một ngày thứ năm của định mệnh đã đưa tôi vào một bước ngoặt của cuộc đời mình.

Lẽ ra hôm ấy phải là một ngày thứ năm bình thường, một ngày thứ năm như mọi ngày thứ năm khác. Lẽ ra sáng hôm ấy tôi phải, như những ngày thứ ba năm bẩy hàng tuần, đạp xe đạp từ nhà ở Thị Nghè đến tuốt tận gần sân bay Tân Sơn Nhất để đến nhà học trò dạy học tư. Đời tôi đã trở nên vô vị như vậy. Thật là vô nghĩa, vô lý. Tôi đã mất bao nhiêu năm miệt mài học, để đến khi gần đến được đích là cái bằng tiến sĩ luật thì đột nhiên phải bỏ dở dang. Cách mạng vô sản đã đưa tôi trở lại với cái nghề mà tôi đã làm từ suốt mười mấy năm, nghề dạy trẽ tại tư gia. Năm nay tôi đã ba mươi chín tuổi. Nếu không có cách mạng vô sản, nếu không có giải phóng, nếu không có sự sụp đổ vô lý của Việt Nam Cộng Hòa, thì giờ này tôi đã là giáo sư đại học, tôi đâu phải đạp xe lọc cọc đi kèm trẻ tại tư gia giống mười mấy năm về trước như thế này!

Nhưng định mệnh đã an bài như thế! Hôm đó phải là một ngày thứ năm khác thường, vâng, một ngày thứ năm giải quyết số phận tôi, một số phận ngặt nghèo của một con người đã phải khổ sở suốt gần bẩy năm, bất mãn chán nản và hết nghị lực. Tôi chẳng hiểu tại sao hôm đó tôi lại không đi dạy như thường lệ. Sáng hôm ấy tôi cũng lấy xe ra đi, cũng qua cầu Thị Nghè, đạp đến đường Đinh tiên Hoàng, rẽ ra Phan Đình Phùng, theo đường Pasteur ngả Hiền Vương để rẽ phải ra Công Lý. Nhưng tôi lai không quẹo sang Công Lý mà lại đi thẳng để đến nhà chị Hòa.

Đối với tôi, chị Hòa đang tiêu biểu cho con người hạnh phúc. Tôi không biết hạnh phúc là thế nào cho trọn đủ ý nghĩa. Tôi chỉ biết rằng chị Hòa đang hạnh phúc vì chồng chị là anh Nhơn đang ở Thái Lan. Anh Nhơn là một cựu sĩ quan mới đi học tập cải tạo năm năm ở nhà tù cộng sản về. Anh chỉ gần vợ con có hơn một tháng là đã tìm đường trốn khỏi quê hương. Và anh đã thành công. Anh đã đi băng Kămpuchia với người con trai lớn và đã đến được biên giới Thái. Anh đã được Hồng Thập Tự quốc tế tiếp đón và đưa vào trại tị nạn. Đối với tôi như thế là chị Hòa đang hạnh phúc. Tôi không hiểu chị Hòa có cảm thấy mình hạnh phúc hay không nhưng tôi cứ tin là như thế.

Thật là buồn cười. Sự phán đoán của tôi bắt nguồn không phải từ lý trí mà là từ con tim. Tâm trạng tôi lúc đó là tâm trạng của một kẻ buồn nản, bất mãn, chán đời, một kẻ muốn ra đi dù có phải gặp cái chết trên đường đi. Tôi đã chán ngán cuộc sống hàng ngày của tôi. Bạn bè đã ra đi gần hết. Một số còn ở tù. Những kẻ còn lại như người mất hồn, mất trí. Tôi làm sao có thể kéo dài thêm những ngày tháng lê thê ở đất Saigon này để nhìn những bộ mặt thiểu não của những người thân? Tại sao trên quê hương tôi, chỉ còn những đôi mắt đăm chiêu, những nét mặt buồn? Tại sao tôi không còn thấy trên những đôi môi những nụ cười hồn nhiên, những câu nói tươi vui? Tại sao tôi chỉ nghe thấy những tiếng thở dài? Chiều tối đến, trên khắp các vỉa hè Saigon và trong hàng ngàn quán cà phê, tôi chỉ thấy tụ tập những thanh niên, trung niên ngồi uống cà phê, hút thuốc lá rẻ tiền và than thở. Ôi những lời than thở vô tận cùng! Bao giờ mới hết được những lời than thở đó trên quê hương tôi?
Tôi đã đến nhà chị Hòa chỉ vì tò mò muốn biết xem bác Lũy, một người tôi mới quen biết có vài ngày, sẽ quyết định thế nào với Hai Học. Đi chuyến này hay không đi? Tôi thì đã trả lời Hai Học rằng tôi sẽ không đi, vì số tôi không thể đi được trong tháng ba âm lịch. Anh Hoằng, một người bạn thân của tôi, một tay xem tử vi rất giỏi đã từng xem rất đúng cho nhiều người mà tôi biết, đã khuyên tôi chờ đến tháng tám hãy đi. Tháng tám là tháng tốt nhất cho cái tuổi nhâm ngọ của tôi. Tôi thì đang sốt ruột muốn đi ngay. Vả lại tháng tám là tháng mưa to bão lớn, đi đường bộ nhiều khó khăn không đi được, mà đường biển càng không. Làm sao tôi có thể đi được vào tháng tám?

- Còn tháng nào tương đối tốt để tôi đi không anh?
- Tháng tư nhưng không bảo đảm, chỉ được năm mươi phần trăm. Tháng tư tạm được. Nhưng tuyệt đối không đi được trong tháng ba. Đi sẽ chạy trối chết trở về, tiền mất mà lại có thể nguy đến tính mạng.

Thế là hết hy vọng. Hai lần tôi đến nhờ anh xem lại cho “kỹ”, anh bực mình bảo tôi “Đã nói rồi, không được là không được!”. Tôi buồn quá. Thế mà quẻ anh gieo cho tôi lại tốt, lại cho biết rằng tôi sẽ đi đến nơi, làm gì thành công đấy! Tôi bực tức hết sức! Tôi cố hỏi: “Tại sao lại có sự trái ngược như vậy?” Anh cũng bực tức trả lời: “Tử vi phải được coi trên bói quẻ. Bói quẻ chỉ là phụ. Không thể đi ngược lại tử vi! Đừng có dại dột mà đi”. Như vậy là tiêu tan hy vọng đi với Hai Học lần này!

Hai Học? Mà Hai Học là ai? Tôi chẳng biết gì nhiều về y. Tôi chỉ biết rằng, qua sự giới thiệu của chị Hòa, y đã đưa được nhiều người đi vượt biên đường bộ. Vượt biên đây thật đúng ý nghĩ của chữ vượt biên, bởi vì kẽ ra đi phải vượt qua hai biên giới, biên giới Việt Miên và biên giới Miên Thái. Tôi cũng chẳng hiểu đi thế nào, lối nào, bao xa, bao lâu thì đến? Tôi hoàn toàn mù tịt, chỉ nghe nói rằng đi bằng xe đạp, rất nguy hiểm và rất cực. Nguy hiểm thì tôi đã chấp nhận từ lâu. Tôi đã tự nhủ rằng thà chết liền, còn hơn sống mòn mỏi chờ ngày chết ở Saigon. Các bạn tôi cũng đồng ý như thế. Do đó hầu như không còn ý niệm hiểm nguy trong đầu tôi. Tôi chỉ còn một ước vọng là ra đi, ra đi dù có phải chết. Còn cực nhọc thì tôi đã chuẩn bị sẵn để đối phó. Từ hơn chín tháng nay, tôi đã hàng ngày đạp xích lô, một phần để kiếm tiền nuôi gia đình, một phần để tập luyện cho thể xác quen đi với sự nhọc nhằn. Tôi đã từng đạp từ sáng sớm đến chiều tối. Đạp xích lô đối với tôi là một sự hành hạ thể xác để cho tôi làm quen với nắng mưa, với sự cực khổ. Do vậy tôi thường đạp suốt trưa, vào những giờ Saigon nóng gay gắt nhất. Mồ hôi nhể nhại, da xạm đen, mệt thở không ra hơi, nhưng tôi vẫn phanh ngực đạp, ngửng cao đầu, hiên ngang chống chọi lại thời tiết. Tôi đã muốn vậy và đã hãnh diện làm được như thế. Đối với gia đình tôi và những bạn bè thân của tôi, tôi đã là một kẻ điên khùng, khó hiểu.

Tôi đã gặp Hai Học tháng trước. Khi gặp tôi lần đầu, y còn e ngại vì chưa biết tôi. Ở trong cái môi trường xã hội cộng sản lúc ấy không ai có thể tin tưởng được ai. Ai cũng có thể là công an giả dạng, ai cũng có thể là người sẽ bịp mình.
Hai Học là một người gầy guộc, da ngăm đen, trán sói, mắt một mí to đen ốc nhồi. Y có nét mặt cứng cỏi, đầy vẻ cương nghị. Nhìn y thấy rõ ngay y điển hình là một tay thích phiêu liêu mạo hiểm. Tôi đuợc giới thiệu rằng Hai Học là một tay tổ chức buôn lậu đường giây Việt Miên Thái có nhiều đàn em. Sau này tôi mới vỡ lẽ ra rằng không phải như vậy. Hắn chỉ là một tay dẫn đường tầm thường, chẳng nắm đường giây buôn lậu nào cả.

Lần đó Hai Học gặp tôi chỉ nói vỏn vẹn có vài lời “Anh hãy chuẩn bị đầu tháng thì đi. Tôi sẽ hẹn anh trước một ngày. Phải mua một khăn quàng cổ đỏ sọc đen, một sơ mi mầu nâu, một đôi dép nhật. Quần áo, chỉ mang theo môt bộ. Tiền đưa trước khi đi là hai cây. Người đi đến nơi sẽ viết giấy về nhà và tôi lấy thêm một cây rưỡi sau.” Tôi chỉ nghe hắn nói mà chẳng buồn hỏi thêm câu gì, vì lúc đó tôi còn đang ở giai đoạn thăm dò.
Sau buổi gặp hắn, tôi đến anh Hoằng để hỏi anh xem tôi đi chuyến đó có được không. Anh khuyên tôi chờ chuyến sau vào tháng tư hãy đi. Vài ngày sau đó, có bác Lũy, một cựu trung tá hồi hưu là bạn của cụ Đắc thân sinh ra chị Hòa, đến nhà cụ để hỏi thăm về vụ vượt biên của
anh Nhơn. Bác Lũy cũng đang tìm đường đi. Tôi đang dạy học các cháu cụ Đắc thì cụ gọi tôi lên và giới thiệu tôi với bác Lũy. Cụ nhờ tôi kể lại cuộc gặp gỡ của tôi với Hai Học. Ngày hôm sau, tôi được biết Hai Học hẹn gặp bác Lũy tại nhà chị Hòa vào ngày một tháng tư lúc năm giờ chiều. Chị Hằng, má của Túc, Đường, và Dậu, học trò của tôi, đã đến tận nhà tôi cho hay tin này. Tôi háo hức muốn đến xem Hai Học bàn những gì với bác Lũy, và nhất là muốn biết giá cả hai bên thoả thuận với nhau là bao nhiêu. Do đó, chiều ngày một tháng tư tôi đã đến dự cuộc họp và được biết bác Lũy đồng ý đi với cái giá là hai cây rưỡi. Hai bên hẹn gặp lại nhau vào ngày hôm sau, lúc tám giờ sáng, để quyết định dứt khoát. Cuộc đi này dự tính cho ngày bốn tháng tư, tức là ba ngày sau đó, nhằm ngày một tháng ba âm lịch và theo Hai Học thì sẽ có thêm vài người nữa cùng đi.

Sáng hôm sau, sáng hôm thứ năm định mệnh đó, tôi đã tò mò đến nhà chị Hòa để xem bác Lũy quyết định ra sao. Tôi nhớ rõ đêm hôm trước, tôi đã đi uống cà phê với anh Tráng, một người bạn thân với tôi. Tôi đã nói với anh rằng tôi có thể sẽ liều mạng đi chuyến này, mặc dù những lời ngăn cản của anh Hoằng. Anh Tráng đã nói với tôi rằng mỗi người đều có số mạng và nếu tôi đã bình tĩnh quyết định thì cứ tiến hành. Tôi thì còn sợ định mệnh và lời nói của anh Hoằng vẫn còn ám ảnh đầu óc tôi. Ngày hai mươi tám tháng hai âm lịch là ngày chót của tháng tốt. Do đó, nếu đi thì phải đi vào ngày đó.

Mà hôm ấy lại là ngày hai mươi tám tháng hai âm lịch. Tôi đến nhà chị Hòa vào khoảng tám giờ sáng. Chị ấy tươi cười tiếp đón tôi và giới thiệu tôi với Xinh, người con gái Miên lai đã đi cùng với Hai Học. Đêm hôm trước Xinh đã ngủ nhờ nhà chị Hòa. Tôi muốn hỏi Xinh về đường đi nước bước trong chuyến đi, nhưng Xinh chỉ là chủ chiếc ghe đưa người từ Châu Đốc sang Nam Vang nên chẳng biết gì nhiều.
Mười lăm phút sau thì bác Lũy đến và tôi cùng bác ngồi chờ Hai Học. Mười lăm phút nữa thì Hai Học đến. Y dẫn Xinh đi ăn sáng một lúc lâu mới về. Tôi thấy y cứ thì thầm với bác Lũy. Nóng ruột, tôi hỏi bác quyết định thế nào thì bác trả lời đồng ý đi chuyến này, làm cho tôi cảm thấy nôn nao muốn cùng đi. Khi Hai Học hỏi tôi có chịu đi chuyến này không, tôi trả lời là tháng ba rất xấu đối với tuổi của tôi nên tôi không đi được. Y hỏi lại ai bảo tôi thế và nói muốn đến gặp anh Hoằng để hỏi cho ra nhẽ. Y nói y đã đi xem thầy Miên và được biết chuyến đi này sẽ xuôi sẽ. Y còn ba hoa rằng số y rất cao, ai đi với y đều được y che chở. Y tự khoe rằng y làm chuyện công đức chứ không phải chỉ làm tiền.

Tôi không hiểu tại sao lúc đó tôi lại mê muội đến độ nghe y và tin những lời phỉnh gạt như thế được. Tại tôi bị mê hoặc hay tại tôi có tâm trạng chán chường, muốn ra đi cho rồi? Tôi bâng khuân suy nghĩ mãi và đồng ý đưa y đi gặp anh Hoằng. Tôi chở y đằng sau chiếc xe đạp cọc cạch và trên đường đi, y liệt kê ra cho tôi tên những người mà y đã “ban phước” cho, những người nay đang tị nạn tại những trại định cư Thái trong số đó có anh Nhơn và đứa con trai mười lăm tuổi. Y nói gia đình những người này coi y là ân nhân, có người còn quì gối xuống lạy y để cám ơn. Những kẻ đến được biên giới Thái yên bình đều viết mật hiệu về cho gia đình để y lấy nốt số vàng còn lại. Y nói bao nhiêu người đi, bấy nhiêu người đến nơi yên lành, chưa ai bị bắt. Nghe y nói mà tôi cứ mê mẩn cả người. Chị Hòa cũng đã khẳng định với tôi là chị quen gia đình ông đại tá Trang nào đó, có sáu người lần lượt đi và đã đều đến nơi. Làm sao tôi không háo hức cho được?

Thế nhưng anh Hoằng lại nói tôi không đi được trong tháng ba! Tôi có nên cưỡng lại số mệnh hay không? Trời ơi, thật là khổ tâm. Nếu tôi không đi chuyến này thì lại phải chờ hơn một tháng mới có chuyến khác. Mà tôi không còn kiên tâm để chờ nữa! Vả lại nếu có gì trục trặc mà Hai Học không trở về kịp để tổ chức chuyến tới vào tháng tư thì tôi hụt đi luôn.

Khi chúng tôi đến nhà anh Hoằng ở đường Tự Đức thì anh lại không có nhà. Tôi đưa Hai Học về nhà tôi chơi ở bên kia cầu Thị Nghè. Chúng tôi ngồi nói chuyện được một lúc thì tôi chợt nẩy ra ý định đi liền hôm ấy, ngày hai mươi tám tháng hai ta, là ngày còn trong tháng tốt của tôi. Tôi hỏi Hai Học nếu đồng ý thì đưa tôi ngay hôm ấy. Hai Học nói sẽ đưa tôi đi Châu Đốc trong ngày
để lấy ngày tốt, nhưng tôi sẽ phải chờ hai ngày ở Châu Đốc đợi những người khác cùng đi vào ngày bốn tháng tư. Lúc đó tôi đã quyết định trong khoảng khắc và chúng tôi đã ngả giá là bốn cây cho hai người, tôi và đứa con trai lớn lúc đó mới mười hai tuổi. Hai Học ra về, hẹn hai giờ trưa sẽ trở lại đưa chúng tôi đi Châu Đốc.

Lúc đó là khoảng chín giờ ba mươi sáng. Sau khi Hai Học đi rồi, tôi gọi con tôi ra và nói với cháu rằng cuộc đi này rất nguy hiểm và gian nan. Chúng tôi có thể bị bắt, có thể đi lạc, đói khát, có thể dẫm mìn mà chết. Tôi bảo cháu rằng nếu cháu bị bắt mà tôi không bị, thì tôi vẫn tiếp tục đi và ngược lại nếu tôi bị bắt mà cháu không bị, thì cháu vẫn phải tiếp tục đi, không thể chờ nhau được. Còn nếu cả hai cùng bị bắt thì không được nhận bố con. Một người có dẫm phải mìn mà chết thì người kia vẫn cứ phải đi tiếp. Tôi hỏi trong trường hợp bi đát như thế, cháu có muốn đi cùng với bố hay không. Cháu gan dạ trả lời “Nếu bố cho con đi thì con đi, con không sợ.”

Cháu Định là đứa con trai lớn mà tôi đã quyết định cho đi cùng. Cháu đã lớn lên trong sự khổ cực chung của toàn dân miền Nam khi đất nước rơi vào tay cộng sản. Hoàn cảnh chung của đất nước tôi lúc đó đã dạy cho cháu tính can trường chịu đựng gian khổ, tinh biết tính toán, biết tự lo cho mình, lo cho các em, tính tự tin tự lập. Mới mười hai tuổi đầu mà cháu đã biết trách nhiệm bổn phận của mình là luôn luôn vâng lời giúp đỡ cha mẹ, chăm sóc các em. Cháu đã biết gía trị của lao động và sự nghiêm chỉnh khi làm việc. Cháu đã biết phụ giúp mẹ làm công việc nhà, biết trông em khuyên răn các em, biết luôn luôn tự chủ, không bao giờ làm cho bố mẹ buồn phiền. Trong hoạn nạn, chúng tôi thật phúc đức có được cháu trong nhà vì cháu tiêu biểu cho đứa con có hiếu. Tôi còn nhớ rõ lúc cháu mới mười tuổi, mỗi sáng sớm cháu đã phải đèo em nó trên chiếc xe đạp nhỏ xíu để hai anh em cùng đi học tại trường tiểu học Trần Quí Cáp và trưa đến chở em cùng về. Tôi không hiểu sao cháu có đủ sức đạp xe qua cầu Thị Nghè với em nó ngồi đằng sau. Sau này khi cháu lớn hơn một chút, có lần tôi bắt gặp cháu bám vào chiếc lam ba bánh khi phải lên con giốc cầu. Nghĩ lại bây giờ thấy rùng mình, thế nhưng vào cái thời điểm khó khăn đó, mọi chuyện đều coi là bình thường. Rồi hình ảnh cháu đứng xếp hàng hàng giờ trước trụ sở phường khóm để lĩnh nhu yếu phẩm, hình ảnh cháu ngồi phụ mẹ chặt những củ khoai hà hay những củ khoai mì đã bị thối quá phân nửa mà gia đình được cung cấp theo hộ khẩu, hoặc hình ảnh cháu ngồi sàng những con bọ đen nhỏ xíu khỏi bột mì để đi đổi lấy mì sợi. Trong khi đó, chị nó phải trông hai em nhỏ, một đứa sinh ngày hai mươi tám tháng tư bẩy lăm, đúng hai ngày trước ngày Việt Cộng đổ quân và xe tăng rầm rộ tiến vào Saigon.

Tôi bảo cháu đi đến sở làm gọi nhà tôi về. Vợ tôi chưa hay biết quyết định ra đi đột ngột này vì theo dự tính thì tôi sẽ không ra đi trước tháng tư. Trong khi chờ, tôi chuẩn bị những thứ mang theo cho tôi và cháu bé: một bộ quần áo, môt quần lót, áo mưa, ít thuốc tây, khăn mặt, kem và bàn chải đánh răng. Tôi rất bình tĩnh, xem việc ra đi này như chuyện đương nhiên phải xẩy đến, không một chút suy nghĩ hay ưu tư nào. Mẹ tôi và các em tôi thì có vẻ hơi lo lắng nhưng không ai mất bình tĩnh cả. Các con tôi ngơ ngác không hiểu gì hơn là bố và anh Định sẽ ra đi vượt biên. Nói tóm lại, sự ra đi bất ngờ của chúng tôi đã được chờ đợi và đón nhận một cách bình thản, không một sự ngạc nhiên, không một sự hoảng hốt. Chúng tôi ra đi như thể đi chợ, đi làm, hay đi xem hát, một việc làm bình thường.

Mười một giờ hơn mà tôi chưa thấy nhà tôi về. Tôi thấy sốt ruột vì chúng tôi phải lên ông bác của chúng tôi lấy hai cây đem trồng cho Hai Học trưa nay. Mười một giờ ba mươi.   Tôi thấy đã quá trễ không thể chờ nhà tôi về để cùng đi, tôi lấy xe ra, đạp lên nhà bác tôi. Tôi thưa với bác tôi rằng chiều nay tôi và cháu Định sẽ khởi hành cuộc đi băng Kămpuchia để đến đất Thái. Bác tôi cũng không lấy gì ngạc nhiên về quyết định này vì ông đã biết rằng một ngày nào đó, chúng tôi cũng sẽ phải ra đi như mọi người khác. Vả lại cũng đã nhiều lần tôi bàn với bác tôi về việc vượt biên đường bộ. Do đó, ông đón nhận tin tôi đi một cách bình thản.

Đối với bác tôi, không việc gì có thể làm ông hốt hoảng. Dù việc có quan trọng đến đâu đi nữa thì ông vẫn bình tĩnh tìm cách đối phó, ông vẫn mỉm cười, không tỏ cho người ngoài biết sự lo
lắng hay ưu tư của mình. Tôi còn hình dung được hình ảnh ông vẫn tươi cười trước ống kính khi ông làm ngoại trưởng mà lại xuống tóc để phản đối Tổng Thống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo. Bác tôi tin ở số mạng và theo ông thì làm gì thì làm cũng không thoát được số trời. Khi tôi xin bác tôi cho tôi hai cây để tôi đi, thì bác tôi cũng sẵn lòng.
Tôi thương ông nhiều, nhất là sau ngày ba mươi tháng tư, khi mà ai cũng xa lánh ông vì sợ bị liên lụy. Tôi vẫn thường đến thăm ông măc dù các bạn bè bảo tôi không nên vì công an sẽ theo dõi. Buổi chiều, khi trời bớt nóng nực, chúng tôi hay ngồi ở sân thượng nói chuyện đời, chuyện triết lý hay lịch sử, nhất là lịch sử Phật Giáo. Ông đã coi tôi như con, có lẽ vì các con ông đều ở xa, và ông đã khuyên răn, giúp đỡ tôi rất nhiều. Ông hẹn tôi một giờ rưỡi đến lấy vì ông không có sẵn. Tôi ngồi lại một lúc để từ giã cô tôi, một người được tôi coi rất thân thiết.

Tôi đạp xe về đến cầu Thị Nghè lúc mười hai giờ ba mươi thì thấy vợ tôi hớt hãi đạp chiếc xe cũ kỹ ngược chiều đi tìm tôi. Tôi ới gọi và chúng tôi cùng về nhà. Vợ tôi rất ngạc nhiên về quyết định quá đột ngột của tôi. Nàng kiểm lại hành trang chúng tôi sẽ mang theo, trong khi chúng tôi chuẩn bị ăn bữa cơm trưa trước khi lên đường. Đúng lúc sắp ăn thì Hai Học đến và y ngồi vào bàn cùng ăn. Ăn xong y hẹn chúng tôi hai giờ tại nhà chị Hòa rồi lại ra đi. Y vừa đi được năm mười phút thì tôi, nhà tôi và cháu bé cũng ra đi.

Lúc đó tâm trạng tôi bâng khuâng bất thường. Tôi không biết rõ lúc đó tôi có suy nghĩ gì trong đầu hay không. Tôi chỉ còn là cái xác không hồn, hành động như một cái máy, không tình cảm không con tim. Tôi không hôn các con tôi trước khi ra đi. Tôi không nói với chúng một câu yêu thương nào, tôi chẳng hiểu tại sao? Với mẹ tôi, tôi cũng chỉ vỏn vẹn nói “Con đi”. Các anh em tôi không ai ra cửa đưa tiễn, chỉ có người em gái tôi có mặt lúc đó. Ai nấy đều bình thản, không ai rươm rướm nước mắt như trong những cuộc chia ly đau lòng khác. Hay tại lúc ấy tôi không để ý, hồn tôi đã lên mây?
Sau này, khi tôi đã đến được trại NW9 yên bình rồi, tôi mới thấy tôi đã quá vô tình. Tại sao tôi lại có thể, đối với những người thân thiết của tôi, có thái độ lạnh nhạt như thế? Tại sao tôi lại không như trong những tiêủ thuyết trữ tình, tạo nên một cảnh giã từ thương tâm đầy nước mắt? Giờ đây, ngồi trong căn nhà tranh tại nơi rừng thiêng nước độc ngay biên giới Thái-Miên, viết lại những giòng hồi ký này, tôi hối hận vô cùng. Tôi muốn ôm các con tôi vào lòng hôn
chúng và nói với chúng những lời âu yếm, tôi muốn nắm tay mẹ tôi để thưa với mẹ tôi vài câu
của đứa con sắp phải xa lìa người mẹ già yêu dấu mà không biết bao giờ mới được gặp lại. Nhưng hỡi ơi! Đâu còn được nữa? Nay tôi đã xa cách những người thân thương của tôi hàng ngàn dặm. Khoảng cách và không gian đã ngăn cách tôi và những người tôi yêu quí nhất đời. Tôi đã ra đi một phần cũng vì họ. Tôi đã phải nhìn những người thân yêu khổ cực mà bất lực không làm gì được để giúp đỡ.

Mẹ tôi vốn sung sướng từ nhỏ, gia đình chúng tôi trước ngày mất nước tuy không giầu có nhưng chưa bao giờ túng thiếu. Bố tôi trước đấy là công chức cao cấp trong ngành Bưu Chính, lương bổng cũng dư đủ để nuôi gia đình. Bố tôi là một người cương trực và lương thiện. Ông đã bao lần ở trong cương vị để có được những số tiền bất chính và trở nên giầu có, nhưng suốt một đời bố tôi không làm một điều gì để các con phải xấu hổ. Vì vậy mà anh em chúng tôi rất hãnh diện có được một người cha gương mẫu. Chúng tôi được giáo dục trong sự khắt khe của một nền giáo dục phương đông. Bố tôi đã dạy chúng tôi trở nên những người ngay thẳng, tự trọng, và liêm chính.

Tôi đã thụ hưởng của bố tôi những tính tốt của người. Nhưng trong một xã hội đảo điên của chiến tranh và thụ hưởng vật chất thì bố tôi và sau này anh em chúng tôi đã bị coi như là những kẻ ngu xuẩn không biết lợi dụng thời cơ, những kẽ bất thường. Khi mà đa số lợi dụng địa vị của mình để vơ vét, tham nhũng, ăn hối lộ thì những người ngay thẳng, liêm chính bị coi là điên rồ.

Vì liêm chính mà vào cuối cuộc đời mình bố tôi đã không có được đủ vật chất để mà sống bình thản. Số tiền tiết kiệm được sau một đời làm việc và số tiền hưu trí của bố tôi đã bị bọn cộng
sản cướp mất sau vụ đổi tiền lừa bịp của chúng vào đầu năm một ngàn chín trăm bẩy mươi sáu. Vì quá căm thù và uất ức, bố tôi đã chết ngay năm đó.
Thế cũng may, vì bố tôi sẻ khỏi phải chịu cái cảnh ăn khoai hà, sắn thối, mì và bo bo của những năm sau đó. Bố tôi cả một đời đã quen uống Chivas Regal và Martell, hút Lucky Strike và Pall Mall, làm sao ông có thể chịu được cái cảnh thiếu thốn cùng cực của những năm “giải phóng” miền nam? Làm sao ông có thể chứng kiến và chịu đựng được sự khốn khổ vật chất và tinh thần mà bọn Việt Cộng đã đem đến cho nhân dân?

Như thế bốn người tụi tôi, kể cả vợ tôi và đứa con gái lớn, trên hai chiếc xe đạp lại nhà bác tôi lấy vàng. Bác và cô tôi đã bỏ cả nghỉ trưa để ngồi chờ tôi trong phòng khách. Chúng tôi nhận vàng từ tay bác tôi trao, rồi bác tôi chúc tôi đi may mắn và lên gác. Tôi còn ngồi chơi thêm với cô tôi và chúng tôi nói chuyện vui vẻ. Cô tôi vẫn bình tĩnh như thể tôi đến từ giã bà để đi du lịch, đi nghỉ mát đâu đó, hay đi một chuyến công du. Lúc tôi chia tay, cô tôi, giọng hơi run run, chúc tôi nhiều may mắn hơn lần trước, cái lần đưa cả gia đình tôi đi tù tại Tiền Giang.

Chúng tôi đến nhà chị Hòa lúc hai giờ rưỡi. Đứa con gái lớn của chị đứng ở cửa. Tôi hỏi cháu “mẹ đâu?” thì nó trả lời “mẹ cháu đi làm, có bác Hai trong nhà.” Chúng tôi vào đến nhà thì Hai Học đã trực sẵn. Y hỏi tôi chuẩn bị xong chưa. Tôi trả lời là xong và trao hai cây vàng cho y. Y đi vào nhà trong, mở ra coi, cuộn những lá vàng lại thành một cuộn tròn rồi đưa lên miệng cắn cho dẹp lại và đưa cho Xinh cất giữ. Tôi thấy Xinh giấu trong người. Hai Học tiến lại gần tôi quan sát cách ăn mặc của tôi rồi gật gù ra vẻ đồng ý. Y gọi cháu Định lai gần ghế sa lông nhìn cháu một chập rồi gằn giọng nói: “Đi với tao, tao nói gì phải nghe, nghe chưa?” Nghe giọng gay gắt và thô lỗ y nói với cháu bé, tôi tự nhiên thấy khó chịu và không còn cảm tình với y.
Sau đó Hai Học lấy chiếc va li mà chúng tôi định mang theo, mở tung ra và đổ hết các thứ đựng trong đó ra kiểm soát. Y bàn với Xinh xem cái gì mang theo được cái gì phải để lại. Chúng tôi chỉ được mang theo một bộ đồ lót ngoài bộ đồ mặc trên người. Thuốc men, thực phẩm, kẹo bánh đều phải bỏ lại. Chiếc vali cũng không được mang theo. Y giải thích rằng mang những thứ đó theo sẽ bị lộ. Quần áo của chúng tôi, y đưa cho Xinh nhét vào trong cái túi sách của y thị.

Hồi Ký Vượt Biên Đường Bộ của ông Trần Kim Bằng

Posted: Friday, February 2, 2018 by Hung Nguyen in
0

Tác giả Trần Kim Bằng, cư dân vùng Little Saigon là một nhạc sĩ, đã phát hành tập nhạc và CD Duyên. Bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên của ông là một hồi ký về hành trình vượt biên đường bộ năm 1980.


Từ Khao I Đăng đến Sikew, 1980

Đầu năm 1980, nhóm người Việt vượt biên đường bộ đầu tiên đươc chuyển đến trại Sikew khoảng 600 người, một số từ các trại sát biên giới Thái Miên, số khác từ trại Arrange Pathet (trại tù lao công đào binh), đa số còn lại từ trại Khao I Đăng section 13. Tất cả được sắp xếp cho vào các Building 1,2 v à 3. Mỗi Building (B) có trưởng và phó Building do một số cựu quân nhân QL-VNCH được đồng bào bầu ra để đại diện người tị nạn tiếp xúc, liên lạc với người Thái trong mọi công việc về mặt đời sống.

Trại Sikew có lính gác, có trại trưởng và trại phó do quân nhân Thái đảm trách. Gặp 2 người này là phải đứng nghiêm, khoanh tay cúi đầu, cung kính chào: Savadi Khấp!”. Đã có nhiều người bị đánh, cá nhân mình cũng suýt bị ăn gậy vì thấy tên phó trại mà làm bộ ngơ ngác, không chào. Thấy nhóm tị nạn trông đen đủi và cô hồn quá nên trưởng trại cho tập họp, cảnh cáo ngay và cho biết đây cũng là một trại tù của lính Thái, nên kỷ luật rất nghiêm nhặt, áp dụng cho dân tị nạn giống như quân đội, vi phạm kỷ luật sẽ bị cạo trọc đầu, giam vô chuồng cọp, chuồng beo… tù vô thời hạn.

Người Thái giống việt cộng ở chỗ bắt sĩ quan, quân dân cán chính VNCH đi học tập cải tạo mút mùa mà không cho biết thời hạn phải tù bao lâu. Ở trại Sikew nếu bị tù thì chua lắm bởi dù phái đoàn có đến gọi tên lên phỏng vấn hay bạn có danh sách đi định cư thì cũng miễn đi, ở tù đã…

Trại Sikew sẽ có chào cờ ngày 2 lần sáng chiều, mọi người đều phải học thuộc và ca quốc ca Thái Lan, còn nhớ lúc đó anh Trần Thịnh* sau này là danh hề nổi tiếng hải ngoại cứ ca nhại “gà dây thung ta nấu cho thành xé phai,… đi đứng lang bang, 2 tay đút vô túi quần..”. làm bà con cứ bò lăn ra cười.

Sikew có 8 building lớn, ngoài 3 building đầu thì các building 4,5,6 dành riêng cho người tị nạn Lào gốc Việt, đến từ trại Nong Khai phía Đông Bắc Thái. Họ nói tiếng Thái (tiếng Lào và Thái xài chung ) và nói tiếng Việt rặt giọng Bắc nghe ngồ ngộ, nhưng dễ hiểu và hiền hòa. Nhìn chung thấy bảnh lắm, vì nước da họ trắng tuốt, quần áo tươm tất, sạch sẽ. Những cô gái Lào gốc Việt ai cũng khá đẹp, và thường quấn xà- rông cho tiện. Phe ta mới đến, nhào qua thăm hỏi tình hình thì họ cho biết người Việt ở Lào đi tị nạn dễ lắm, chỉ bơi qua một con sông là sang đất Thái, qua trại Nòng Khai, ở riết chán, thấy khổ thì lại lẻn bơi về. Nhưng sau này cao ủy chuyển về Sikew. Hỏi tới mới biết họ ở trại Sikew này, người ít nhất, sơ sơ cũng trên 1 năm, còn 3, 4 năm thì nhiều, được đi định cư thì phải là may mắn. Lý do: họ lý luận, đơn giản thôi, người Thái không cho phái đoàn các nước vào trại phỏng vấn?

Vì tị nạn ở trại càng lâu thì càng đẻ ra nhiều công ăn việc làm cho dân Thái. Tiền do cao ủy trả, điều này có lý khi nhìn vào trại Khao I Đăng, trại khá lớn mà người Thái cấm đào giếng và nước phải do họ cung cấp, bạn tính xem, nhiều trăm chuyến xe do công nhân Thái chở nước vào mỗi ngày ngày cho 5 chục ngàn người Kampuchia ròng rã trong nhiều năm…? Chiến tranh làm cho một số nước nghèo đi nhưng lại có lợi cho những quốc gia khác.

Trại Khao I Đăng, được biết chỉ được định nghĩa là nơi để “lánh nạn” chứ không phải là “tị nạn” nên không có phái đoàn đến trại phỏng vấn, bởi vậy khi chuyển trại, có một vài người Miên giả làm người Việt tỉnh queo, lên xe đi theo, sau này định cư thành công.

Khao I Đang có Section 13 mới xây thêm, dành riêng cho nhiều nhóm người Việt đầu tiên vượt biên bằng đường bộ. May là thời gian ở đây chỉ vài tuần ngắn ngủi. Cũng có thể do “trâu cột ghét trâu ăn” hay vì cộng sản Việt Nam đang xâm lăng Kampuchia? nên xảy ra vài đụng chạm nhỏ giữa Miên và Việt, nhờ vậy Cao ủy tị nạn phải di tản đám người Việt về trại Sikew gấp sợ có chuyện.

Nhìn chung thấy đường tương lai sao mù mịt quá! Ở Sikew khoảng vài tháng sau này mới thấy thấm thía hai chữ may mắn mà lúc mới tới không ai để ý. Khi có một gia đình người Lào Việt được đi Đức, loa phóng thanh reo:”Sau đây là danh sách những người… may mắn có tên được đi định cư ở đệ tam quốc gia”. Thôi thế thì cứ yên tâm sống đời tị nạn mà xem tình hình biến chuyển thế nào? Ai siêng chịu khó cắp sách đi học thêm sinh ngữ do các thày tị nạn tự nguyện đứng ra dạy và ráng giữ gìn sức khoẻ chờ thời! Nói giữ gìn sức khoẻ là vì góc trại Sikew cũng có nghĩa trang nhỏ, nơi đó có 12 người tị nạn vĩnh viễn chọn làm nơi an nghỉ!

Thời gian 1980, những người vượt biên đường bộ khá tuyệt vọng vì chưa được thế giới biết đến nhiều bằng những người Việt vượt biên đường biển hiện rầm rộ có mặt khắp nơi tại các nước láng giềng ngoài Thái như Indonesia, Malaysia, Philippine, Hong Kong…

Sikew có Building 8 (B8), rất đặc biệt vì nằm bên kia trại, cửa ra vào đều bị khóa, kiểm soát chặt chẽ, nội bất xuất, ngoại bất nhập, lính gác có súng. Người tị nạn là những cán binh, bộ đội, trong đó có nhiều người thuộc dân con cái “ngụy” tức phe ta chính gốc VNCH, nhà nghèo không tiền lo lót, bị bắt đi nghĩa vụ quân sự, nhân cơ hội vọt luôn qua Thái xin tị nạn. Những người này trước khi tới trại đều được đưa về Bang kok khai thác chán chê rồi mới đưa về Sikew, và có tin đồn họ sẽ vĩnh viễn ở lại đất Thái, phần nữa cũng không quốc gia nào dám nhận cho phe nón cối, dép râu đi định cư? Chuyện người ta đề phòng tình báo phản gián mà. Thiệt là thê thảm!

Lúc đó mình gặp lại đứa em trong xóm thuộc diện này, nay trở thành bộ đội vượt biên hiện nằm trong B8. Mừng quá vì nhà nó chỉ được báo cáo mất tích, mọi người ai cũng nghĩ nó bị tiêu rồi! Chú em bắn tiếng qua hàng rào kẽm gai nhờ mình tìm cách báo về Sài Gòn cho má biết là còn mạnh khỏe.


Nói về nhân vật của B8, bạn phải nghiêng mình thán phục, nhiều chuyện khôi hài, hồi hộp hay táo tợn và hào hùng. Nhớ có hiện tượng mà toàn trại Sikew ai cũng biết và cười. Các cụ B8 có lạc bước nơi đây, đọc xong xin đại xá..


B8 mặc dù là những người vượt biên tìm Tự Do nhưng đối với người Thái đầy nghi kỵ nên vẫn bị hăm he về chuyện không có ngày đi định cư. Đời sống trong trại tù túng, thiếu thốn không có tương lai kể khá bi đát. Cách hay nhất là viết thư gõ cửa các hội thiện nguyện khắp nơi tìm an ủi, hổ trợ hay sponsor. Kẻ có thân nhân thì nhờ báo chí hải ngoại tiếp tay đăng tìm giúp và có lẽ vụ tìm bạn bốn phương cũng bắt đầu từ đó.


Không biết ai khởi xướng nhưng chỉ thời gian ngắn sau trăm hoa nở rộ… tức là, trự nào ở B8 cũng có một vài người yêu khắp nơi trên thế giới để mà tâm tình, trò truyện, nhưng quan trọng nhứt là có thêm thu nhập tài chánh.


Trên mục kết bạn tâm thư báo Văn Nghệ Tiền Phong và báo Hồn Việt tại hải ngoại, California lúc nào cũng đăng tin rất nhiều các em gái trong trắng, ít tuổi đời, lạc bố mất mẹ trên đường vượt biên, hay goá phụ ngây thơ, nữ sinh Gia Long, Marie Curie, Trưng Vương,… nói chung nhan sắc mặn mà, trên trung bình, con nhà gia giáo, hiện độc thân, cô đơn lắm… đang mong chờ mòn mỏi các ân nhân phương xa ra tay cứu giúp, em nguyện sẽ nâng khăn sửa túi, đáp đền khi gặp lại. Thư từ liên lạc xin gửi về em tên…. Địa chỉ trại Sikiu Camp,…Building 8… Panat Nikhon, Ratchasima- Thailand.


Sau 1975 các đấng liền ông thoát được ra hải ngoại đi tìm các cô mà lấy làm vợ, con mắt đổ ghèn tìm hỏng ra nương nào! Mấy cô tiểu thư dù nhan sắc khiêm nhường, chỉ cần hơi trắng da dài tóc là trước ngõ vương tôn công tử đầy kẻ thập thò, tha hồ mà chọn. Úi chao! sao cái B8 – Sikew này tự dưng có lắm người đẹp thế! Thế là thư từ đáp ứng cứ nườm nượp thay phiên nhau đổ về.

Tình hình lúc ấy “nóng” quá, không ra tay sớm kẻ khác cuỗm mất, người khôn là người biết ra tay cứu vớt các em từ thủa bơ vơ!

Thùy Trang, 26 tuổi, 1 con, bị chồng ruồng bỏ. Hiền, thùy mỵ, đẹp xấu tùy người đối diện, vừa may mắn cùng con thoát được đến bờ tự do, không thân thuộc bảo lãnh. Hiện rất cô đơn, muốn yên phận để nuôi con trưởng thành. Tìm nơi nương tựa, chỉ dẫn Trang bước đầu nơi xứ người. Mong gặp đối tượng thành thật để tính chuyện lâu dài. Xin đừng đùa giỡn, Trang hứa sẽ hồi âm và gửi hình dù thư đến trễ. Thư về Thùy Trang, B8 – Sikiu.

Rồi sao? Người đẹp “trai” Thùy Trang, có ngày nhận cả 2 chục lá thơ gửi tới, tuyên bố ngon lành, anh nào không thực tế, nói toàn chuyện yêu đương tha thiết, lỉnh kỉnh là dẹp, thơ nào check có mấy choạc, tức là dưới trăm đô, cũng dẹp. Thiệt tình Đời tị nạn thành đời vương giả ít ra nơi mặt vật chất!

Màn đại bịp rộ khắp trời Sikiu. Cả nước B8, các đấng nam nhi chuyển giống qua gien “nữ”!

Hình ảnh để làm tin cho các anh yêu nơi phương trời xa xôi thì như phần trên đã nói về các cô gái Lào gốc Việt ở Building 4,5,6, họ giống lai giòng nên ai cũng “đép đẹp”, nói theo lối của họ. Tóm lại, duyên may đưa đẩy…Trai Sài Gòn gặp gái Viêng Chân như cá gặp nước, mê nhau như điếu đổ, dù B8 mỗi ngày chỉ có mấy trự được phép thay phiên nhau qua bên này đi chợ ở khu B4, và thời gian thì không nhiều, nhưng có cô nào mà không thích được chụp hình để các anh coi cho đỡ…nhớ! Thiệt là thiên thời địa lợi, hình các em gái Lào được các “cô” B8 dùng gởi đến quý anh giai bốn phương trời.



Dân hành nghề nhiếp ảnh thời ấy cứ là kiếm khối tiền!



Vượt biên một phút


Những người bộ đội tị nạn Việt Nam tại B8 thì mỗi người đều có một hoàn cảnh vượt thoát khac nhau. Câu chuyện có thật của Nguyễn Tấn X, cấp bậc binh nhất, diện Nghĩa Vụ Quân Sự, anh thuộc sư đoàn 5 ninh 8, trung đoàn 123, đại đội 3 (?) trực diện đêm ngày tại tuyến đầu với tàn quân Polpot trong rừng, ngay sát biên giới Thái.



Vì đóng quân án ngữ ngay bìa rừng cạnh biên giới nên ngày ngày lính biên phòng Thái và bộ đội Việt Nam đều nhìn thấy nhau. Cả hai bên đều canh chừng tàn quân Polpot ở trong rừng. Tuy không có giao tranh nhưng người Thái luôn đề phòng và bố trí lực lượng khá hùng hậu nơi này. Giữa hai đội quân khác màu áo chỉ khoảng hơn trăm thước là một bãi mìn dầy đặc như để phân ranh giới do cả hai bên thay phiên nhau thay đổi vị trí gài đặt mỗi buổi chiều.


Mỗi sáng, phía Thái có chào cờ thì bên này cũng tập họp để nghe chính trị viên đại đội cà kê huấn thị. Bữa kia có chuyện…


Như thường lệ buổi sáng thức dậy trời tờ mờ còn ngái ngủ ra tập họp, đồng chí X lợi dụng lúc mọi người còn đang uể oải, chưa vào hàng đầy đủ đã làm 1 cú lịch sử, đột ngột chạy băng qua bãi mìn trước mắt những người lính của cả 2 bên. Mọi người đều bất động, nín thở chờ mìn nổ, quên cả nằm xuống vì bất ngờ quá. Lúc chính trị viên đại đội phát giác la lên thì mọi người tỉnh hẳn và không tin chuyện xảy ra trước mắt: Hắn la lên: “Đồng chí X, trở lại ngay không tôi bắn…” Đã quá trễ, X cứ chạy, vừa chạy vừa giơ hai tay lên cao tỏ ý đầu hàng để lính Thái khỏi bắn ẩu. Lúc đó phía hàng quân Thái đang tập họp nhìn ra vấn đề ngay và họ lập tức điều động quân lính gờm súng chuẩn bị đáp ứng tình thế. Như một phép lạ, càng chạy càng nhanh.


Sau này anh cho biết cảm tưởng lúc đó chân như không còn chạm đất mà cũng không sợ đạp trúng phải mìn nữa, mọi chuyện đều phó mặc định mệnh an bày. Thời gian chưa đầy 1 phút mà rất dài, mọi người ai cũng nín thở nhìn theo chờ nghe tiếng mìn nổ, và rồi cuối cùng, mìn… không nổ. Anh đã thành công khi liều mạng chạy băng qua bãi mìn để đổi lấy sự Tự Do. Khi chạy đến phần đất Thái, viên sĩ quan Thái ra hiệu anh tiếp tục chạy xuyên qua hàng lính của họ và tự mình đứng chắn trước lối anh vừa qua…


Họ nhanh chóng khám xét anh rất nhanh và cho người áp tải đi vô sâu trong đất Thái. Phía bô đội tức tốc gởi người qua và đòi lính Thái phải giao trả về… “No way Jose!” Bạn ơi làm gì có chuyện này!


Đồng chí X được lên xe Jeep chở ra khỏi vùng hỏa tuyến và ngay chiều đó được chuyển về Bang kok. Khoảng tháng sau khi an ninh Thái điều tra với những thủ tục cần làm, họ chuyển anh về Building 8 Sikew. Như vậy, có thể nói cuộc vượt biên bằng chân vượt qua bãi mìn dầy đặc, đánh cược với tử thần đổi lấy Tự Do này thiệt vô tiền khoáng hậu. Thời gian giữa sống và chết chỉ trong khoảng chưa đầy 1 phút, quá nhanh, như vậy xứng đáng được ghi vào sách những kỷ lục lịch sử Guiness thế giới.


Anh cho biết thêm, trong vụ này thực ra có 2 người, kẻ đưa ra ý kiến vượt qua bãi mìn này lại là người bạn bộ đội gốc Bắc kỳ của đồng chí X. Họ trở thành thân nhau trong dịp anh X cứu anh Y thoát chết trong 1 trận giao tranh (đồng chí Y sau này cũng vượt thoát được khi bộ đội cộng sản đánh tràn qua đất Thái đuổi tàn quân Pôn Pốt khoảng giữa năm 1980).


Anh Y cho biết cả hai đã tính toán trước, chuẩn bị cuộc vượt biên liều mạng này lâu rồi và chỉ chờ dịp thuận tiện… Thường buổi chiều hôm trước nếu được giao nhiệm vụ gài mìn, lúc gài đặt phải lén đánh dấu và cố nhớ kỹ chỗ mình gài để biết mà tránh. Đó là bên này, chưa kể vùng mìn rác ở giữa, và mìn gài bên phía lính Thái thì sẽ tính toán theo sác xuất, quan sát, nhưng họ dĩ nhiên thường hay thay đổi… coi như đánh cuộc số mệnh.


Anh Y cho biết thêm người chính trị viên đại đội đã nhắm bắn anh X nhưng không hiểu sao cuối cùng lại không nổ súng? Anh suy đoán có lẽ hắn cũng hồi hộp không dám bắn thẳng vào anh X vì nếu trật, trúng lính Thái thì sẽ có đáp lễ và thành to chuyện ngay, có điều cả đại đội ai cũng biết tay đó bắn rất giỏi?


Anh Y cho biết đêm đó cá nhân anh nhận phiên gác khá xa, bàn giao trễ nên về tới chỉ kịp lúc thoáng thấy anh X đã chạy rồi.


Trại Sikew Được Phỏng Vấn


Quay trở lại nhóm 6 trăm người đến Sikew từ Khao I Đăng, khoảng đầu tháng hai 1980 được dồn vào các Building 1, 2 v à 3. Rất may mắn vì trong nhóm có người biết tin tức, địa điểm nơi quân nhân Hoa Kỳ mất tích (M.I.A. = missing in action) nên người Mỹ hầu như tuần nào cũng ghé vào trại để làm việc vài ngày. Nhờ vậy nên người Thái cũng phần nào e dè, bớt khắt khe hơn với tị nạn?



Ngoài ra nhóm đầu tiên đa số là dân Sài Gòn, khá nhiều sĩ quan mới học tập cải tạo về, có bác sĩ, giáo sư, luật sư, nhiều cô bác từng làm việc cho sở Mỹ… Trình độ tiếng tây tiếng u như gió. Quả thực là may mắn được ở chung với nhiều người giỏi, vì vậy nhóm 6 trăm chinh phục được nhiều giới chức, các cô chú còn nhờ cao ủy đi gõ cửa các tòa đại sứ giùm, đánh động phương tây giúp can thiệp định cư.



Cho đến khoảng tháng 8, 9 có tin trại Sikew cho phép các phái đoàn vào phỏng vấn sau nhiều đánh tiếng lên tới cả nhà vua Thái. Dân con côi cũng được phái đoàn Mỹ phỏng vấn theo diện “xì bông xô hốt rác” nếu kiên quyết chờ và không có thân nhân các nước khác. Lúc ấy thì “thung thướng” lắm. Thêm chuyện vui là giấy tờ xin phỏng vấn muốn khai sao thì khai, nên một số rút kinh nghiệm ở Việt Nam sợ đến tuổi phải đi lính sớm, hiên ngang rút tuổi xuống cho trẻ, có kẻ “kéo quá hóa co” bởi cái hại sau này là lúc qua Mỹ rồi rất khó khi làm đơn bảo lãnh gia đình đi đoàn tụ. Kỳ rồi quán phở ngoài Bolsa có một cựu Sikew xưa ở chung Building, râu đã dài tới rốn, người qua tuổi lãnh hưu trí từ lâu mà vẫn cứ phải bưng tô, đi cày tiếp bởi xưa hơi quá tay, rút tới mười tuổi lận! Cụ nức nở phân trần:”đời ai biết mà ngờ”.



Rời Thailand



Nhóm 6 trăm cuối cùng cũng được “may mắn” rời Sikew làm 3 đợt, mình đi đợt 2 tháng 1 năm 1981 đến trại Panat Nikhom, ở 1 ngày rồi lên trại Lumpini Transit Center, tại thủ đô Bangkok chuẩn bị ra phi trường qua Pulau Galang RPC tức Refugee Processing Center để học Anh ngữ và bước đầu hội nhập đời sống Hoa Kỳ. Đến trại này rủi mà lại vui vì không hiểu sao hồ sơ bị trục trặc nên phải ở lại hơn hai tháng đâm ra tối ngày lông nhông trốn ra Bankok chơi… Vì là trại chuyển tiếp đến và đi, tất cả người tị nạn bắt buộc phải ghé ngang trước khi rời khỏi xứ Thái. Điều kiện sinh hoạt trại Lumpini khá tốt về ăn uống và nước tắm. Ở đây gặp và kết thân được nhiều bạn đến từ các trại đường biển như Songkhla, Leamsing. Thường người nào bị kẹt lâu lắm cũng chỉ 1,2 tuần, với thâm niên gần 2 tháng mình trở thành trưởng trại, sắp học thuộc được tiếng Thái… “Nừng xoỏng xám xì ha hộc…đếm từ một tới mười thì lên đường.



Trại Transit Center thường có những vụ trả thù giữa những người tị nạn, tay người Việt kia gây nhiều bất công, ăn chặn tiền ăn bạc, hà hiếp đồng bào lúc có tí chức quyền nơi trại cũ, khi lên tới Lumpini này bị đồng hương tị nạn vác dao rượt chạy có cờ. Một ông cựu trưởng ban an ninh từ trại đường biển, khi lên đây phải đút lót tiền cho cảnh sát Thái xin được ở chung nơi trạm gác, không dám lò dò vào bên trong để mà lấy cơm về ăn hay đi tắm rửa, cứ vậy cho tới khi lên xe buýt ra phi trường.



Từ trại chuyển tiếp Lumpini lên máy bay qua Singapore, nhân tiện xin được thay mặt tất cả những người tị nạn đã đi qua trại Lumpini thời đó và sau này đã từng nhận được sự giúp đỡ về mặt thơ từ, để nói lời cám ơn chân thành đến Madame Simon Thúy. Một người Việt sinh sống nơi Bangkok, có chồng người Anh, làm trong lãnh sự quán Anh Quốc, ông qua đời vì tai nạn xe. Chị Thúy sống luôn tại Bankok nuôi con, và đã ngày ngày tình nguyện vào trại Lumpini giúp chuyển giao và nhận, cùng gửi thư tín đi khắp nơi qua địa chỉ nhà của chị cho đồng bào được yên tâm. Âm thầm hy sinh làm liên tục trong nhiều năm. Hy vọng Chị Thúy có dịp đọc được mấy lời này.



Galang 2, 1981



Đến Singapore, được tàu nhỏ đưa vô đảo Galang. Nhóm mình là những người đầu tiên được vào ở Galang 2, lúc đó mới vừa hoàn thành. Cứ bốn thanh niên được dồn vào 1 Barack mới toanh còn thơm phức mùi cây gỗ. Y như khách sạn dành riêng cho Summer Vacation để ngắm cảnh ở Mỹ, tệ lắm cũng được 3 sao dù không căn nào có cửa. Qua thời đi tới đâu cũng cả trăm mống chung một nhà. Ăn uống có đồ hộp, cao ủy phát trước vài ngày 1 lần, tuy thiếu chất tươi nhưng sao cũng được, có tiền thì có thể ra chợ ngoài Galang 1 mua thêm rau do bà con tị nạn tới trước trồng, nhưng tụi này mà có tiền thì tối ngày lại thích ra quán ngồi đấu láo cho vui. Nhớ lúc đó cơm cao ủy khi ăn lâu lâu nhai nghe cái “cộp” 1 phát thiếu điều gãy răng, lè ra mới thấy nguyên cái ghim bấm giấy (stapler) bằng sắt, mà vụ này bị hoài à? Cũng may là nhai trúng, chớ không thì chắc phải giải phẩu thay mấy cái bao tử mới??? Phòng vệ sinh sạch sẽ, có khu tắm tập thể nước bông sen. Ba vụ nước rất quan trọng nên bà con phê quá, tị nạn lúc đó thấy như thiên đàng, bụng nghĩ giá có phải ở lâu tí cũng OK. Các đấng chuyên tán phét ngoài quán cà phê thì cho rằng đây là nơi đặc biệt, chỉ dành riêng cho những tị nạn đã có vé vô Hoa Kỳ, đến để ăn ngủ, học Anh ngữ, hướng nghiệp rồi lên đường định cư…nên họ phải lo cho thật chu đáo, đầy đủ, ưu tiên hơn những nơi khác! RPC khác với những người chưa được phái đoàn tới phỏng vấn, oai lắm đấy. Nghe sao mà ớn quá! Vấn đề nước tắm nhớ kỹ lại thì hình như chỉ được tuần đầu, tuần sau thì tắm…khô vì sau một vài ngày thỏa thê mát mẻ ấy chả hiểu vì sao không bao giờ thấy nước chảy ra từ vòi sen nữa! tịt hẳn! họ chỉ biểu diễn lúc đầu để tính tiền cao ủy? cũng may gần đó có suối, chịu khó chờ thứ tự cũng không đến đỗi nào…



Vấn đề học Anh văn phải lấy test để phân chia trình độ cao thấp, lớp phải do các thày người Indonesia dạy, thày Việt chỉ được cho làm trợ giáo, không lương. Lớp học tiếng Anh của mình, gen thô mân (gentleman) lâu lâu thày giáo Inh đô dạy phang bừa thành “giăng tơ lơ măng” làm cả lớp có đứa xém phải khiêng lên bệnh viện vì chết sặc, cười…



Môt buổi tối đang chuẩn bị ngủ thì nghe có buớc chân rầm rầm chạy lên cầu thang, rồi 2 cô cậu chạy ào vào phòng như cơn gió, tiện tay vồ luôn cái chăn nơi cửa tụi này gấp lại dùng để chùi chân, trùm vô cho kín, giả bộ…đang ngủ ngon. Người nam đưa ngón tay trỏ lên miệng suỵt suỵt, ra dấu nói bà con giữ im lặng giùm…



Khoảng nửa phút sau có tiếng xe máy hung hãn rồ ga, ánh đèn pin nhá nhá, rồi tiếng tây tếng u, tiếng Indo, tiếng… Đan Mạch la hét loạn xạ ngầu, như chửi bới cay cú lắm. Lúc này nhận ra anh mới chạy vào phòng là người quen cùng trại bên Sikew, qua Galang từ trước hiện đang ở Galang 1. Anh cho biết mò từ ngoài đó vô thăm người yêu mới sang ở Galang 2. Cô cậu đang hú hí trên đồi thì an ninh Inđo đi xe ngang rọi đèn pin thấy và rồ ga lên đồi để bắt quả tang dám… hò hẹn trong giờ giới nghiêm. Chả hiểu sao, bữa đó trời không trăng! thiệt xui cho nó mà hên cho cậu mợ, lúc rượt theo thì đất đỏ gặp giời mưa mấy bữa trước vốn trơn trợt nên cu an ninh bị té xe khá nặng, trợt từ trên đồi xuống nên hai người mới thoát được. Chuyện tình Romeo + Juliet này dính như keo nhưng bị bên họ hàng của ổng ngoài Galang 1 phát giác, họ nhao lên phản đối quá xá, sau này khi định cư ở Mỹ thì mối nhân duyên mới chấm dứt bởi… vợ ổng từ Việt Nam lò dò dắt theo mấy đứa con qua đoàn tụ! Cái này gọi là Cali tình xù chớ Galang tình…không xù, nói theo kiểu bác Liêm, người rất nhiệt thành, hiện đứng ra thực hiện đặc san, tổ chức những buổi hội ngộ cho Thuyền nhân, Bộ nhân xưa.



Galang 2, 1981 về mặt tôn giáo cũng có linh mục làm lễ mỗi Chủ Nhật. Bà con Công giáo và kể cả người không công giáo cũng đến tham dự thánh lễ, ngồi đứng đầy trên đồi Golgotha, mọi người ai cũng sốt sắng lắm, đọc kinh rõ là to, chắc cầu cho mau đi định cư? Lúc đấy mình có quen 1 anh bạn làm giúp lễ, cách đây khoảng 2 năm, anh qua Cali chơi đi thăm con chiên ngoài… Phước Lộc Thọ tình cờ gặp. Anh cho biết hiện đang là 1 linh mục tuyên úy trong quân đội Hoa Kỳ. Ngài cho ít thông tin về những người quen xưa, đặc biệt nhất là tin về ông cha thời đầu tiên ở Galang 2 thường cử hành thánh lễ mỗi Chủ Nhật. Lúc cha qua Mỹ thì đã thôi chức linh mục và trở về đời thường. Cởi áo chùng thâm, mặc tuxedo lên xe bông đám cưới, âm thầm theo tiếng gọi con tim về nhà vợ, đến nay cũng đã có nhiều con lớn…



Tóm lại Galang với mình chỉ nhớ được chút ít vì ở không lâu, đâu khoảng 2,3 tháng gì đó là đi rồi. Thời gian ở đây ngắn ngủi quá, tình còn chưa có lấy chi xù hả các bác?

blank



Galang tiễn người đi.

blank

Tay kia rời trại đang vẫy tay chào từ dưới tàu, đi rồi còn dặn thợ chụp làm một “bô” kỷ niệm, chỉ khổ cho mấy thằng con bà sơ trên bờ vốn là chuyên viên vay mượn kinh niên phải trả tiền chụp hình cho him.



Từ Galang qua Singapore rồi qua Mỹ, cuộc sống mới bắt đầu với nhiều nỗ lực hòa nhập, những người bạn cũ ở gần đôi lúc vẫn tìm đến nhau, hay phone thăm hỏi nếu ở xa. Rồi thời gian thưa thớt dần vì xứ người khá bận rộn, cánh độc thân nơi ăn chốn ở hay thay đổi…Lâu lâu vẫn có tin về trại cũ do người đi sau may mắn được qua định cư kể lại. Thời gian những năm sau này trở nên thê thảm hơn khi các nước từ chối nhận thêm người tị nạn đến định cư, bắt đầu thanh lọc, ai rớt sẽ bị trả lại về Việt Nam. Đồng bào trong các trại tị nạn phản đối qua nhiều hình thức như biểu tình, tuyệt thực, kể cả liều thân, mổ bụng tự sát… Về B8, rất may mắn, vì trước đó, khoảng giữa năm 81, người đi tị nạn vào đất Thái bằng hai ngả đường biển và đường bộ ngày càng đông, tạo nhiều áp lực, người Thái và cao ủy tị nạn quyết định đóng cửa những trại tị nạn rải rác trên đất Thái và dồn hết về trại Sikew, nên phải giải tỏa, cứu xét cho những người ở quá lâu đi, có tin cho biết tất cả những người của B8 đều được phỏng vấn bởi các phái đoàn, riêng những bộ đội tị nạn cộng sản gốc miền Bắc nếu họ muốn đi theo diện nhân đạo sẽ được chính phủ Áo nhận tất cả. Cựu vượt biên đường bộ trại Sikew ở Mỹ báo tin cho nhau và chia xẻ sự vui mừng cho những anh em B8. Tạ ơn Trời Phật.



Tuy nhiên, trong niềm vui vẫn thấy lòng se thắt… Một số người trong B8 đã đi theo tiếng gọi non sông, lên đường trở về đất mẹ….



Phần cuối



“Old solders will never die, they just fades away… “



General Douglas MacAthur



Một buổi chiều tại thành phố Westminster – California, khoảng thời gian 1982 – 1984..? Trời u ám buồn, người bạn cũ từ trại Sikeu rủ tới Biên Thùy Quán trên đường Westminster, cho biết có sinh hoạt đặc biệt. Khi đến thấy trong quán có khoảng hơn 2 chục ngưòi đang thì thào nói chuyện, ai cũng đăm chiêu. Trên vách tường treo một lá cờ Việt Nam Cộng Hoà, dưới bàn có một chén nhỏ đựng gạo cắm những cây nhang nghi ngút khói. Không khí như lắng đọng khi được biết đây là buổi tưởng niệm cho một số chiến sĩ phục quốc bị cộng sản sát hại khi trở về lại Việt Nam chiến đấu. Người may mắn thoát được trong trận phục kích đã liên lạc báo tin sang Hoa Kỳ. Đau lòng thay, một trong số những người hy sinh có trưởng Building 8 của trại Sikew thời đó, anh Vũ Đình Khoa.



Anh Khoa dáng người tầm thước, mặt vuông, cằm bạnh, vẻ quả cảm, toát ra phong cách hào hùng nhưng lại rất yêu văn nghệ, khi nói chuyện niềm nở, thu hút. Nên biết, phải uy tín thế nào mới được bầu làm trưởng B8, một Building với những tay cựu binh sừng sỏ nam bắc, đội đá vá trời và coi lính Thái chả ra quái gì! Trưởng trại Sikew cũng biết như vậy nên cần người như anh để mà yên tâm về B8. Đặc biệt, anh đi khắp nơi trong trại mà không cần phải phép tắc gì, ai gặp cũng đều phải e dè, nể vì, kể cả trưởng và phó trại. Đó là hình ảnh cựu Trung úy Trinh sát, gốc Võ Bị Đà Lạt. Anh Khoa lâu lâu ghé qua lều gần mình thăm bạn, đốt điếu thuốc, chia sẻ dăm ba kinh nghiệm hành quân bắt sống việt cộng. Nghe ké những chuyện kể khó quên trong đời của anh rất thú vị.



Được biết, nhóm của anh bị phục kích, trận chiến không cân xứng lực lượng, hỏa lực của khoảng hơn trung đội chọi với cả tiểu đoàn có xe tăng nằm chờ sẵn. Anh Khoa bị thương ngay từ đầu, nhưng cương quyết ở lại để cầm chân cho một vị yếu nhân chỉ huy cùng người cận vệ vượt thoát… Khi kể lại câu truyện này trên Face Book thì nhận được thêm tin nhắn của một cựu B8 dấu tên, cho biết nguyên văn như sau… “Xin lỗi anh, mình đường đột lộ diện để bổ túc thêm info về anh Khoa của tụi mình B8, Vũ Đình Khoa from Đà lạt đã gãy cánh ở Hạ Lào cùng với người bạn thân đồng sanh tử là Nguyễn văn Lộc trong chiến dịch mở đường cho Võ Đại Tôn nhưng có một người cùng đi với hai người trên được định cư tại Canada tên là Trương Quang Vịnh*. Dĩ vãng thì buồn nhưng có những người can đảm như anh nhắc lại thì mình phải đối diện. Rất là cám ơn anh những chuyện bên lề về Sikew và B8, anh kể hoàn toàn chính xác vì nhóm chúng tôi là những người bộ đội vào trại đầu tiên tháng 5 – 1979 sau nhiều tháng ở Bangkok làm việc với Bộ Quốc phòng Thái và CIA – USA…”



Ai cũng nghĩ các anh yên ổn định cư ở một đệ tam quốc gia, nào ngờ! Những người trai thế hệ, được hun đúc bởi hồn thiêng sông núi, người quân nhân ưu tú của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Với lý tưởng Tự Do cho đồng bào, quê hương Việt Nam, đã từ bỏ tất cả, từ chối tương lai tươi sáng trước mắt để anh dũng trở về cầm súng chiến đấu và hy sinh. Thật cảm động và hào hùng. Nhân ngày tháng Tư lại đến, chúng ta cùng nhau dành đôi chút thời gian, thắp nén hương lòng, tưởng niệm đến các anh nói riêng, và tất cả những người quân dân cán chính đã hy sinh vì hai chữ Tự Do.

*



Khoảng đời tị nạn tưởng đã quên sau bao năm, nhưng khi ngồi ôn chuyện cũ, có nhiều hình ảnh hiện lên rất rõ. Dù Sikew, Galang, hay bạn sống ở những trại tị nạn khác rải rác khắp Đông Nam Á, cũng là một thời qua với nhiều kỷ niệm. Cám ơn Face Book tạo cơ hội cùng nhau hồi tưởng về những tháng ngày long đong, lận đận. Giọt nước mắt mừng vui, đau khổ, hay tuyệt vọng. Có tên đi định cư hay rớt thanh lọc? biểu tình phản đối, tuyệt thực, bị trả về lại…



Hiện đã có đặc san Galang Một Thủa, 40 năm Thuyền Nhân Viễn Xứ,… kế hoạch tổ chức hội ngộ do một số anh chị hy sinh đứng ra làm việc để dù chân trời góc bể, cựu trại tị nạn cũ qua đó sẽ có dịp tìm đến được với nhau, chia sẻ, kể lại những chuyện vui buồn ngày xưa. Mong rằng trong sâu xa hơn, sẽ không bao giờ quên nguồn gốc mình là người tị nạn cộng sản vì hoàn cảnh phải bỏ nước ra đi, và luôn nghĩ về quê hương, nơi đồng bào chúng ta vẫn chưa thực sự có Tự Do, Dân Chủ.



Ghi chú:



– Một số tên nhân vật đã được thay đổi*



– Thời gian làm phai mờ nhiều chi tiết, mong các bạn ở cùng thời bổ túc nếu có sai sót



04/ 2015 (Mùa Quốc Hận)