Hồi Ký “VỀ MỘT CUỘC RA ĐI" - Giáo sư Trịnh xuân Đính: Lên Bangkok lấy Tàu đi Galăng

Posted: Saturday, November 24, 2018 by Hung Nguyen in
0


Lên Bangkok lấy Tàu đi Galăng

Ngày mười tháng tám tôi lên xe buýt đi Băng Cốc, ở lại đó ba ngày, rồi lên tầu lớn cùng cả năm bẩy trăm người đi đảo Ga Lăng ở ngoài khơi biển Nam Dương. Từ Băng Cốc đến Galăng, phải chịu năm ngày, bốn đêm khốn khổ trên con tàu chạy như con rùa, chẳng khác nào chúng tôi đi vượt biển. Người người nằm la liệt trên boong tầu, ăn ngủ ngay tại đó, ốm đau nằm rên khừ khừ cũng tại đó, ngày đêm tại một nơi, chẳng khác nào hồi di cư từ bắc vào nam năm năm mươi tư, có khác chăng là không đi loại tầu há mồm, và dân tị nạn không có nhiều đồ mang theo như dân di cư.
Chúng tôi đến đến Ga lăng ngày mười tám tháng tám, nơi đây chúng tôi làm thủ tuc chót trước khi đi định cư tại Hoa Kỳ. Tại đó tôi được cho số căn cước mới là T#282616, và tạm trú tại Barrack 193, room 7, Zone E, RPC Galang 2.
Trại Ga lăng có nhiều cảnh thiên nhiên rất đẹp, có núi, có bờ biển với những bãi cát trắng, sóng nhấp nhô làm cho tôi nhớ đến Vũng Tầu hay Đồ Sơn, có bến tàu nơi những ca-nô chạy cả trăm cây số giờ đưa những nhân viên các tổ chức quốc tế giúp người tị nạn từ Nam Dương hay Tân Gia Ba tới lui nơi này.
Nhớ đến bến tầu ấy, tôi nhớ đến những hình ảnh không vui của những ghe thuyền mà dân vượt biển đã dùng để đến nơi đây, những ghe thuyền đó nay nằm chết ở đấy, và sẽ còn là những chứng tích lịch sử đấu tranh của những con người đã ra đi vì cộng sản. Bao nhiêu người đến được nơi đây rồi chết nơi đây? Chỉ cần đếm những nấm mồ chôn cất tại nghĩa địa trên hòn đảo này, cái nghiã điạ mang danh Ga lăng 3 thì biết. Bởi vì hòn đảo này được chia ra làm ba khu vực, khu vực một cho những kẻ vượt biển đi thẳng đến Nam Dương lúc đó, còn phải chờ được phỏng vấn, còn nhiều lo âu; khu vực hai cho những người đang hạnh phúc như tôi, đã được chấp nhận đi Mỹ, đến đây để chờ ngày đi; và khu vực ba, như đã vừa kể ở trên, cho những kẻ đã cố công đi đến đây để rồi ở lại đây vĩnh viển. Kể ra chết và được chôn ở cái nơi khá thơ mộng này cũng sướng, đó là một đặc ân của trời cho, còn hơn những ai chết bờ chết bụi trong rừng thiêng Kămpuchia, hay chết một cách khốn nạn ngoài biển khơi để thân mình làm mồi cho cá.

Ga lăng hai có những căn nhà gổ hai từng tương đối khang trang cho dân tị nạn, và tôi đã được cấp cho một căn phòng ở từng trên, có cây cầu thang gổ để đi lên đi xuống. Tôi hay ngồi trên nấc thang chót ngắm cảnh sinh hoạt của trại, hay nhìn trời, nhìn đất, nhìn mây nhớ đến gia đình, và các bạn bè còn ở lại Saigon. Tôi đã phải ở nơi đó gần hai tháng, hai tháng mà tôi có cảm tưởng như hai năm, vì nay thủ tục đã xong hết, không còn gì để mà còn phải lo lắng hay theo dõi.
Những lúc không biết làm gì, tôi đi sang bên ga lăng một thăm ngôi chùa Phật Giáo có bức tượng rất to và đẹp, và tôi ngồi trên cái đu cột trên cành cây ngoài sân, trước lối vào, để ngửi mùi hương và suy nghĩ về niềm tin và con người.

Những buổi chiều mát ở Ga lăng, tôi thường đi dạo trên những con đường sỏi đá chạy từ khu vực một đến khu vực hai, đi hàng mấy cây số để đến những quán lá bán cá phê ngồi nghe nhạc vàng, nhớ về quê hương nay đã xa cách. Ôi những buổi chiều buồn day dứt ấy, nhưng lại đáng sống, đáng hưởng, những buổi chiều mang bao ý nghiã của cuộc sống của con người, trải qua bao đắng cay mới đến được bến bờ này, nay ngồi hưởng những phút suy tư trong tiếng nhạc tiếng hát, bên hương vị của tách cà phê và những điếu thuốc. Tôi đả từng ngồi như thế, đôi khi với những người bạn mới, nhưng thường thì là một mình, bởi vì mình đâu có đến đó để vui, để nói chuyện, để cuời. Mình đến đó để buồn, để nhớ, để trầm tư mặc tưởng.
Tôi nhớ nhất là những lần ngồi với người em gái Nam Dương xinh như mộng, tuổi chưa ba mươi, em là bác sĩ làm việc trong phái đoàn y tế Nam Dương phụ trách khám sức khỏe cho những ai sắp được đi Mỹ. Em đã khám cho tôi, em đã nói chuyện tâm tình trong lúc gặp tôi, và do định mệnh đã sui khiến hay sao, em đã mến tôi và sau đó chúng tôi thường đi chơi với nhau. Em kể cho tôi nghe về quê hương em, tôi kể cho em nghe về quê hương tôi, hai quê hương trái ngược một sướng một khổ, và em đã mủi lòng khi nghe đến chiến tranh, chết chóc, tàn phá, những chịu đựng và đau đớn của con người. Khi nghe nhạc Việt buồn, em bắt tôi dịch lời ca ra tiếng anh cho em thông cảm, em thông cảm với người viết bài ca, người hát bài ấy, hay với tôi thì không biết, nhưng có một điều chắc là em biết tôi đang buồn. Em cứ nhìn tôi không nói gì, vào những lúc tôi như muốn khóc, nhưng tôi có khóc đâu? Ngày tôi sắp đi em buồn lắm, em nói em cũng muốn đi Mỹ, đi để làm gì tôi không hỏi. Bây giờ chỉ còn bức hình chụp với em và các em của em, trên con tầu đưa tôi đi Tân Gia Ba để lấy máy bay đi đinh cư. Em đã muốn tiễn chân tôi đi và không đành ở lại bến tầu Galăng, phút chót em đã theo con tầu hay theo tôi? Tôi có cãm tưởng như có cái gì đã liên kết hai đứa tôi vào lúc đó. Em đã tiếc tôi ra đi quá nhanh, em đang xin giấy cho tôi tới đất liền để em đưa tôi đi thăm nơi em ở là Gia Các Ta (Djakarta) mà không kịp. Có những tuần em không về nhà liền vào chiều thứ sáu mà lại ở lại ngày thứ bẩy, em đưa tôi đi ăn ở những quán rẻ tiền ở Ga lăng một, làm tôi cứ bứt rứt, nghĩ buồn cho thân phận, mình đã không có khả năng bao em, phải để em bao mình. Không hẳn là tôi không có tiền, vì tôi chẳng đi làm cho cơ quan thiện nguyện Save The Children và được một
đô la một ngày là gì? Nhưng số tiền ấy chỉ đủ cho cà phê và thuốc lá. Thôi thì vì hoàn cảnh, tôi cũng chẳng thiết gì ăn, tôi đã chỉ muốn được bên em, được đi cạnh em, nắm tay em cho bớt thấy cô đơn. Lần chót đi uống cà phê với nhau, trong bóng tối của lá cây um tùm, em đã để cho tôi ôm, cho tôi hôn, nhưng chỉ có thế, có thế thôi, không gì hơn nữa.
Đến Tân Gia ba, em đưa tôi đi ăn, đi sắm một cái quần tây rẽ tiền, một chiếc sơ mi dét (chemisette, sơ mi ngắn tay) và một đôi giầy ba ta, thứ giầy vải có đế mỏng mà mẹ tôi bắt tôi đi khi tôi còn đi học.Tôi đâu có nhiều tiền để mua đồ sỉn như hồi xưa, khi tôi còn là sinh viên.

Những ngày tôi còn thanh niên, tôi cử tạ cho thân người nẩy nở, tôi đi xe mô-tô, mặc quần áo may theo mẫu trong ca-ta-lốc (catalogue), và đi giầy i-ta-li (Italie). Bao nhiêu tiền đi dạy kèm trẻ tại tư gia, đưa hết cho tiệm may Văn Quân ở đường Gia Long, gần rạp hát Lê Lợi, và các tiệm giầy gần đó, để rồi đi chơi với các em, đôi khi phải để em bao, vì sờ túi thấy không còn tiền. Được cái các em con nhà giầu, mà lại thích “anh” nên chẳng sao, nhất là các em biết tôi là tay chịu chơi, không bao giờ hà tiện, bủn sỉn. Ngồi sau mô-tô anh phóng như bay, em cứ ôm sát vào lưng anh, dựa đầu lên vai anh, và lấy bàn tay xoa những bắp thịt vai cứng như đá của anh, em thấy ngây ngất trong lòng, quên đi lúc em phải mở ví. Vả lại tôi cũng đâu phải dân bẩn, sau đó để trả lại những món nợ do hoàn cảnh, tôi thường mua tặng em những món quà đắt tiền như cái vì da hay lọ nước hoa để rồi em vui, em cười, em nói “ Sao anh dễ thương quá vậy?”

Tiền bà cô tôi gởi cho, năm mươi đô la, đến vào đúng giờ đúng lúc, vì nếu không thì tôi chẳng biết phải làm sao, không lẽ đi với em chỉ dòm dòm, ngó ngó. Trên đường phố sang trọng của thành phố đẹp nhất nhì Đông Nam Á này, tôi đang ngắm những cặp giò cao của những cô gái gốc Triều Châu thì em đã hỏi “Để chuẩn bị đi Mỹ, anh còn phải mua gì nữa không?”. Tôi đã cứ giả vờ không nghe thấy và đùa với mấy đứa em của em cho thời gian chóng qua đi. Lúc tôi trở về trại và em phải chia tay tôi vĩnh viển, dường như tôi thấy đôi mắt em long lanh, em cứ nhìn tôi mà không biết nói gì. Để chấm dứt sự căng thẳng, tôi cám ơn em đã ưu đãi tôi và hứa rằng khi qua đến Mỹ tôi sẽ biên thư cho em. Quả thật tôi đã viết liền cho em khi tôi đến Nữu Ước, nhưng không nhận được thư hồi âm. Có lẽ em đã bổng ý thức rằng tôi đã có vợ, có con, mơ mộng viển vông không đưa đến đâu cả. Thế nhưng đối với tôi, em đã là một nàng tiên, bổng nhiên từ trên trời rơi xuống, để mang đến cho tôi những giây phút đẹp nhất trong cuộc đời, và hạnh phúc tôi có được bên em đã tô điểm cho cuộc ra đi của tôi những nét mầu hồng, những nét hồng phác nhẹ trên nguyên cái nền mầu đen.

Tôi đã phải ở lại Tân Gia Ba hai ngày, rồi được cho ký giấy nợ với cái cơ quan quốc tế ICEM (Intergovernmental Committee of European Migration), cơ quan liên chính phủ lo cho những di dân ở Âu Châu. Cái chữ M(igration) nó đã làm cho tôi liên tưởng đến những đàn chim, đàn cò, cứ đến mùa lạnh là bay về những chân trời phía nam, nơi có ánh nắng mặt trời ấm cúng. Tôi không đi về phía nam, nhưng tôi cũng đang đi tìm một chân trời ấm cúng, nơi mà các con tôi, nếu một ngày nào chúng tôi được đoàn tụ, sẽ chắc chắn thấy được ánh nắng ấm của hạnh phúc, của tương lai.



Trên con đường đến đất Tự Do

Ngày hai mươi ba tháng chín, tay trái cầm một cái túi lát-tích (plastique) trắng bự có in dấu hiệu ICEM ở hai bên, trong đó có một đống giấy tờ gì tôi không biết, và những tấm hình to tướng chụp phổi chụp gan gì đó, tay phải ôm khư khư cái túi trong có mớ quần áo cũ, kỷ niện cuộc đi băng Kămpuchia, tôi đã bước lên máy bay đi Cựu Kim Sơn, cái thành phố nổi tiếng mà ai cũng biết đến, trừ những thằng nhà quê như tôi. Trên ngực tôi, người ta đã dán một nhãn giấy, trên ghi nơi tôi sẽ đến, chuyến bay tôi sẽ đi và hội từ thiện đã đứng ra giúp đỡ tôi đi định cư. Trong túi tôi còn tờ mười đô la, mà tôi lâu lâu cứ sờ sờ vì sợ bị đứa nào móc túi lấy mất, tâm trạng tôi vẫn là tâm trạng của kẻ đã sống bẩy năm đưới chế độ cộng sản chuyên chế.
Chiếc máy bay đáp xuống phi trường Cựu Kim Sơn vào buổi chiều, khi trời đã xẩm tối. Chúng tôi đã được đai diện ICEM và những cơ quan thiện nguyện ra đón và đưa lên những xe buýt to tướng. Tôi đã quá mệt vì chuyến đi dài chưa bao giờ tôi tưởng tượng nổi, nên tôi cứ thấy ai làm gì thì tôi làm theo. Trời hơi lành lạnh mà tôi chỉ phong phanh có chiếc áo mới mua ngắn tay, làm tôi nổi da gà và rùng mình. Ngồi trên chuyến xe buýt, tôi như anh nhà quê ra tỉnh, nhìn những xe hơi đi vùn vụt qua, thấy vừa chóng mặt vừa nhức đầu. Và chắc hẳn là tôi có cái mã của anh nhà quê, vì bẩy năm trời tôi đã sống trong một thế giới thiếu văn minh, nếu không muốn nói là man rợ, một thế giới đã xoay trở lại hai ba mươi năm về quá khứ.
Tôi được đưa đi đâu khi đó tôi không biết, tôi chỉ nhớ tôi đã thấy xe chạy qua một cây cầu dài tôi chưa từng thấy trên đời, rồi sau đó còn đi cả tiếng đồng hồ đến một nơi đồng không mông quạnh như một khu quân sự. Sau này thì tôi mới hay đó là trại Ha Min tơn (Hamilton), gần chùa Vạn Phật, và cây cầu đó là cây cầu nổi tiếng Gâu Đơn Ghết (Golgen Gate) bắt ngang qua vịnh Cựu Kim Sơn. Chúng tôi được đưa đến một trại lính cũ, vào một căn phòng lớn mênh mông chứa cả mấy trăm người, hai người chia nhau một giường hai tầng.
Để đồ vào những hộc tủ có khóa xong, chúng tôi được hướng dẫn xuống nhà ăn, nơi đây, lần đầu tiên trong đời, tôi thấy nhiều đồ ăn đến thế! Nào thịt gà, thịt bò, nào rau, nào khoai tây, đủ thứ nước chấm , trái cây đủ loại, cam táo nho lê mận chuối, ôi tha hồ ăn, vừa ăn vừa bỏ túi. Tôi mới từ một thế giới chết đói đến một thiên đường dư thừa mọi thứ, trông cái gì cũng hoa mắt, cũng thèm, cũng muốn. Nghĩ lại bây giờ thấy sao tôi đã thảm hại đến như vậy? Chẳng gì ở Việt
nam trước kia, tôi cũng là ông này bà nọ, chứ có phải là dân cu li đâu? Thế mới thấy cộng sản
đã đầy đọa con người, đã làm cho con người không còn phẩm giá vốn dĩ của mình nữa.
Sau bữa cơm tối, tôi ra sân nhìn trời nhìn đất mà lòng bâng khuâng không bìết mình vui hay buồn, nay mình đã ở đất Mỹ. Thật là quá sớm cho tôi có được một ý niệm rõ ràng về mảnh đất mà tôi sẽ phải gọi là quê hương này.
Trời lạnh làm tôi rét run, đứng chưa được mươi phút, tôi phải chui trở vào trong nhà. Tất cả đã trở về phòng ngủ sau khi ăn xong, tôi cũng vội vã đi theo những người sau chót. Đêm ấy tôi ngủ như chết vì mười mấy giờ trên máy bay tôi đâu có chợp mắt được.
Trên con đường đi định cư, đa số có những người thân thuộc bên cạnh, chỉ riêng tôi và một số thanh niên là cô độc. Trong cái hoàn cảnh đó, tôi đã được một số thanh niên chấp nhận, và chúng tôi đã thành một nhóm, đi đâu cũng có nhau. Như thế cũng phần nào làm cho mỗi đứa chúng tôi thấy ấm lòng hơn, khi chân ướt chân ráo đến nơi xứ lạ quê người, bao nhiêu lo nghĩ, bao nhiêu băn khoăn, đang tràn ngập đầu óc chúng tôi.

Đến ngày hôm sau, các cơ quan thiện nguyện đã dán danh sách với đầy đủ chi tiết như tên người đi định cư, nơi đi định cư, tên người bảo lãnh, ngày giờ và tên chuyến máy bay. Khi tôi tìm tên tôi thì tôi được biết cơ quan lo cho tôi đi là USCC, nơi tôi đi là một tỉnh ở Alabama, người bảo lảnh tôi là bà bác vợ tôi, và chuyến máy bay tôi đi là bốn giờ sáng ngày hôm sau. Nhìn thấy cái tên Alabama là tôi đã mất hồn, mất vía. Tôi không biết Alabama ở đâu, tôi chỉ biết qua báo chí rằng nơi ấy có nhiều Mỹ da đen, có bọn KKK, và đó không phải là một tiểu bang ngon lành như Ca li phọc ni a, Tếch xát, hay Nữu Ước. Do vậy mà tôi cuống cuồng đi hỏi nơi đặt văn phòng của USCC để đến xin đi Nữu Ước, nơi có người bảo lảnh tôi là dân biểu Norman Lent.
Khi tôi cùng môt thanh niên tôi quen đi tới văn phòng ấy, thì một người Việt nam làm việc cho cơ quan USCC đã tỏ ra hổng hách, dọa nạt tôi, coi tôi như một tên mọi mới ở Phi châu đến. Khi tôi nói tôi không muốn đi Alabama mà muốn xin đi Nữu Ước thì tên khốn nạn đó đập bàn quát lên với tôi rằng tại sao không đi Alabama, tại sao đòi đi Nữu Ước, mới ở Việt Nam qua đã biết gì mà đòi thế này thế nọ, giấy tờ USCC bảo đi đâu thì phải đi đó và không có đổi chác gì hết, tối hôm đó phải lên máy bay đi Alabama.
Tôi nghe thằng chó chết ấy, thay vì giúp đỡ tôi là dân tị nạn, lại dở trò quan liêu, bắt nạt tôi, coi thường tôi, nên máu cu li của tôi nổi lên, tôi văng tục tùm lum, đòi đánh nhau với nó, và chửi cha cả tổ chức USCC lẫn nó lên. Tôi bảo nó tôi đâu có nhờ USCC hay USKK bảo trợ cho tôi bao giờ đâu, tôi chẳng biết USCC là cái quái gì, tôi không hề làm đơn hay ký tên trên giấy tờ của cái cơ quan đó, tôi chỉ biết có cái giấy của dân biểu Mỹ ở Nữu Ước bảo lãnh cho tôi vân
vân và vân vân. Mỗi câu tôi nói, vào cái lúc tôi điên tiết đó, đều có hai chữ ĐM hay CCC, tên đó nghe hoảng hồn bèn đổi giọng nói với tôi là để rồi hắn lo.
Đêm hôm đó trên chuyến bay đi Alabama, không có tôi. Ba hôm sau, khi hầu hết những dân tị nạn đã đi rồi, chỉ còn lại chừng hai chục người, tôi mới đươc thông báo là hãy chuẩn bị để đi vào sáng sớm ngày thứ sáu tức là hôm sau. Tôi đâu có gì để chuẩn bị, chỉ có cái túi quần áo ăn mày, cái quần tây, cái áo sơ mi ngắn tay đã mặc trên người, đôi giây ba ta đã đi vào chân, còn cái gì nữa đâu ngoài tờ mười đô la để trong túi quần?
Lúc lên máy bay, ai cũng được phát cho một chiếc áo ấm, mà mãi sau này tôi mới biết tên gọi là dắc két (Jacket), nhưng khi đến phiên tôi, thằng khốn kiếp đó nó thù tôi, nó không cho. Tôi hỏi nó, nó bảo giấy tờ USCC đưa tôi đi Alabama, nay tôi đi Nữu Ước tôi không được!
Sau này, sau khi máy bay đáp xuống phi trường Ken ne đi, tôi mới biết rằng nó còn chơi tôi một đòn làm tôi phải khóc tu tu như một đứa trẻ. Lúc đó quả thật nếu tôi về được Kem Ha Min Tơn (Camp Hamilton) thì chắc chắn thằng ấy ít nhất cũng phải mất vài cái răng cửa. Ngày tôi chạy xích lô, tôi đã từng đập những thằng cán bộ và bộ đội cộng sản, tên ăn mày này có thấm gì? Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn căm cái tên mất dạy đó, tôi vẫn còn muốn bịch nó, nhưng không biết nó ở đâu mà bịch.

Lúc hai giờ trưa, khi khoảng hai chục đứa chúng tôi xuống phi trường Nữu Ước và vào trong nhà ga, đại diện những hội từ thiện hay chính những người xì pông so (sponsor) đã hoặc ở đó, hoặc sắp sửa đến. Chỉ có tôi là chẳng có ai biết mà ra đón. Sau khi tất cả những người tị nạn kia đã đi hết, tôi cứ đứng đó chờ, chờ hoài, chờ mãi cho đến năm giờ chiều mà không thấy gì. Tôi ngồi bệt xuống đất dựa lưng vào tường, tay ôm cái túi quần áo, và nước mắt tôi bắt đầu chảy ra. Tôi không biết phải làm gì, vì mình có ở Mỹ bao giờ đâu? Tôi chỉ biết ngồi đấy chờ, trong đầu lo không có ai đến đón thì làm sao đây?
May phúc cho tôi có một người đàn ông Mỷ đi qua, thấy tôi thút thít khóc, thương tình hỏi tôi có chuyện gì. Tôi nói tôi là người Việt tị nạn, hội USCC đưa tôi đến đây mà không cho xì pông so tôi hay, nên không ra đón tôi, bây giờ tôi không biết phải làm sao. Ông ta đưa tôi vào văn phòng hãng máy bay United Airlines, rót cho tôi một tách cà phê, rồi nói chuyện với tôi một lúc. Ông tự giới thiệu là me ne dơ (Manager), có người anh ruột sang chiến đấu ở Việtnam và đã hy sinh trong trận chiến gần Pleiku. Ông nói ông rất thương dân tộc Việt và bảo tôi nếu không ai đến thì tôi sẽ về nhà ông ở tạm cho đến thứ hai. Ông nói chiều thứ sáu các văn phòng USCC đóng cửa không còn ai làm việc. Tôi bèn chìa ra tờ giấy của dân biểu Norman Lent, ông cầm lấy đọc, và may phúc cho tôi trên đó có số điện thoại liên lạc với văn phòng thường trực của quốc hội. Ông gọi số đó, người ta cho số nhà của vị dân biểu, ông gọi nhà của người ấy, và được trả lời là sẽ cho người ra đón trong vòng nửa giờ. Thế là tôi thoát chết! Cái thằng khốn nạn ở USCC tính hại tôi, nó biết tôi nhà quê lên tỉnh, tưởng tôi không biết mần mò, cho rằng tôi sẽ chết vì cái đòn độc địa của nó. Nhưng số tôi cao, có Trời Phật phù hộ, nên ông Mỹ đó đã cứu tôi.

Đúng nửa tiếng sau, ông Gellerman là người thực sự xì pông so cho tôi, dân biểu Lent chỉ đứng tên trên giấy tờ cho tôi mau được đi, đến đón tôi. Vừa thấy tôi, ông nhe răng cười và nói “cái thằng bé con như mày mà Florence bảo tao mày là giáo sư đại học!”. Florence là bà bác sĩ Gellerman, người đã nhận giúp đỡ tôi từ khi tôi còn ở NW9. Ông cám ơn ông me ne dơ, tôi cũng nắm chặt tay cám ơn ông me ne dơ rồi chúng tôi đi ra về bằng chiếc xe ca đi lắc (Cadillac). Nhà ông ở Merrick, Long Island, một căn nhà sang trọng, trong một khu sang trọng. Bà Gellerman ra cửa ôm tôi và nói “Congratulations! You are now in America!” (Tôi mừng cho ông ! Bây giờ ông đã đến đất Mỹ)

Những Ngày Đầu trên Đất Mỹ

Với tư cách tị nạn, tôi đã được cấp một tờ chứng nhận gọi là ai nai ti pho (I94)  với những chi tiết như sau:

I94 issued September 30 1981 in San Francisco
Alien registration # Ạ-277-501
CAT IV/ GT 282616
Visa issued September 23, 1981

Sáng hôm thứ bẩy bà Gellerman bảo tôi “Anh sẽ phải lên Men hát tăn (Manhattan)  kiếm việc. Nhưng muốn đi làm, anh phải đi xin sâu sơn xê kiu ri ti năm bơ (Social security number). Thứ hai tôi sẽ đưa anh đi xin, bây giờ anh ra ăn sáng.” Tôi chẳng hiểu bà nói cái gì. Tôi không biết Men hát tăn ở đâu và cái Sâu sơn xê kiu ri ti năm bơ là cái quái gì. Tôi ngớ ngớ ngẩn ngẩn, cái gì bà nói cũng ô kê. Chúng tôi ngồi vào cái bàn tròn ngay cạnh bếp, bà cho tôi uống nước cam rót từ cái bình lát tích to tướng bằng cái bình đựng nước tương bên nhà, ăn cái bánh gì không giống bánh mì mà trông lại giống cái phao đi bơi nhỏ xíu, làm tôi nhớ lại Đồ Sơn vào những khi tôi mười hai, mười ba tuổi đi biển đeo cái ruột bánh xe hơi bơm căng để khỏi bị chết đuối. Tôi ăn không thấy ngon, thêm vào đó lại còn phết cái chất gì giống như kem sữa đặc nhưng lạt phèo, mà lại hột hột. Tôi hỏi bà đó là cái gì, bà nói bây gơn (bagel) và cốt tết chi (cottage cheese). Bà hỏi tôi ăn ngon không, tôi nuốt không dô nhưng cũng phải nói ô kê. Bà còn đưa cho tôi một quả chuối xanh lè, tôi vốn đã ghét chuối, nay lại thêm chuối xanh, tôi làm sao ăn cho được? Tôi nói “nâu, thanh kiu”, bà đưa cái bình vuông vuông bằng giấy cạc tông trên có chữ milk, tôi biết ngay là sữa, hỏi tôi vắn tắt “miếc?”. Tôi cũng lại “nâu, thanh kiu”. Đầu tôi lúc ấy chỉ nghĩ đến một bát tái nạm gầu, thơm phưng phức, nóng hổi, rau thơm, giá chanh ớt và một cốc cà phê đen đậm. Tôi tự nhủ “sống ở Mỹ ăn những đồ quỉ này chỉ có mà chết sớm!”

Trong suốt thời gian ăn sáng, tôi thấy chồng bà tên Xi Mua (Seymour) chỉ vừa đọc báo vừa nhai, mà chẳng nói câu gì, và cũng chẳng thèm để ý đến tôi. Tôi bổng nhận thấy rằng hình như trong căn nhà đó, ông chồng chỉ ngồi yên không quyết định việc gì, tất cả đều do bà vợ. Tự nhiên tôi cảm thấy nhột nhột, hơi buồn vì thấy có lẽ mình đã vào lầm nhà.

Ăn sáng xong, Xi Mua đi vào phòng làm việc nhỏ xíu của ông, vặn ti vi lên xem, Phơ Lo (Flo, tắt cho Florence) ra ngồi ghế bành đọc báo. Tôi mon men lại gần, bà bỏ tờ báo xuống nhìn tôi với đôi mắt trìu mến và hỏi “ yét đia?” (Yes, dear?). Tôi lấy hết can đảm hỏi bà làm sao để lảnh oen phe (welfare), bà trợn mắt nói với tôi rằng không nên nói cái chữ đó trong nhà bà. Rồi bà dài giòng kể rằng bố mẹ của cả Xi Mua lẫn bà đều từ I dơ ra en (Israel) đến, nghèo khổ nhưng không bao giờ ăn oen phe. Bây giờ tôi cũng là một thành phần trong cái gia đình Do Thái ấy, không được nghĩ đến chuyện ăn cái thứ ấy. “Don’t you ever think about getting it!” là nguyên văn câu bà nói. Thế có chết cha tôi không? Thảm nào lúc nãy bà bảo tôi đi tìm việc!

Chiều thứ bẩy, và sau này tất cả mọi chiều, chiều nào cũng như chiều nào, sau khi ăn cơm xong, Xi Mua và tôi phải cho bát đĩa dơ vào máy rửa chén, phải rửa, đánh bóng, chùi khô rồi cất đi cả năm bẩy cái chảo, soong, nồi. Chẳng bao lâu sau đó, Xi Mua vì đã từng phải làm cái công việc đó chắc cũng đã hai ba chục năm rồi nên chán ngấy, ông chỉ đứng làm với tôi dăm ba phút rồi bảo tôi “iu heo me đu dờ rét, ô kê?” xong ông trốn vào cái “lỗ chui ra chui vô” (như lời nói của Nguyên Cao Kỳ hồi xưa khi thương phế binh chiếm đất cắm dùi ở Saigon) tức là cái phòng làm việc của ông. Tôi như vậy phải lãnh đủ, cho đến ngày tôi đủ lông đủ cánh bay đi tìm tự do.

Sáng chủ nhật, tôi chưa ngủ dậy, thì Phơ Lo gõ cửa phòng tôi. Tôi vừa ló đầu ra thì bà bảo tôi dậy ăn sáng rồi đi nhà thờ. Khốn nạn cho tôi, tôi là Phật tử, nay bắt tôi đi nhà thờ Do Thái là thế nào? Tôi nói “Ai ken nốt gâu, ai am bu đít” nhưng bà vẫn bắt tôi đi, bà nói sẽ giới thiệu tôi cho tất cả cái cộng đồng người Do Thái trong nhà thờ của bà, nhất là với ông ráp bai (rabbi). Thế là tôi phải dậy, sửa soạn ăn sáng rồi đi.
Tại cái nhà thờ trông lạ mắt xây theo những hình thù hình học ấy, tôi cứ lẽo đẽo đi theo Phơ Lo để bà giới thiệu tôi với hết người này lẫn người kia, trong khi Xi Mua tìm đường lẫn đi đâu lúc nào tôi không hay. Những đứa con gái tuổi mười lăm mười sáu, tưởng tôi mới hai mươi, hai mươi lăm, cứ sán lại tôi làm quen. Hồi đó, tôi gầy gò cân nặng chỉ bốn tám năm mươi kí lô, nhìn vào ai bảo tôi bốn mươi? Chẳng thế mà khi ở Cựu Kim Sơn, đi học chương trình Em Bi Ây
(MBA) ở trường Sư Tết (State) tôi được bao nhiêu em tầu, phi, đại hàn tuổi chưa ba mươi mết như điếu đổ.
Sau đó, tôi cũng phải dự lễ. Phơ Lo đưa cho tôi cái nón Do Thái để tôi đội lên chóp bu đầu và bảo tôi “Anh là người Việt Do Thái đầu tiên!”. Tuy hôm ấy hơi vất vả, nhưng sau đó tôi được người ta đem cho nhiều quần áo cũ, nhiều cái còn mới đẹp tới độ Xi Mua thấy thèm dành của tôi.
Hôm thứ hai, sau khi Xi Mua đi làm, tôi mới hỏi Phơ Lo chồng bà đi làm ở đâu, làm gì, thì bà nói Xi Mua làm cho một tờ báo ở Men hát tăn. Luôn thể tôi hỏi Men hát tăn ở đâu, bà mới nhìn tôi với đôi mắt ngạc nhiên nói “anh không biết ư? Đó là tên của thành phố Nữu Ước”. Khoảng chín giờ bà đưa tôi đến sở an ninh xã hội để xin cái sâu sơn xê kiu ri ti năm bơ, bà chỉ cho tôi điền đơn rồi chúng tôi phải ngồi chờ cả tiếng đồng hồ mới được nộp đơn. Sau đó bà đưa tôi đến một tiệm giầy, và nói “anh phải có một đôi giầy cho tốt để đi làm”.

Trước hàng trăm đôi giầy đủ loại, bà hỏi tôi chọn đôi nào, tôi chỉ đôi giầy I ta li, thì bà trố mắt lên nhìn tôi. Bà chỉ đôi giầy cao cổ mầu vàng khè và bảo tôi mua đôi ấy vì mùa lạnh sắp tới, tôi sẽ cần đôi ấy mới đủ ấm. Tôi đòi mua đôi mầu đen, bà nói những đôi khác không ôn sen (on sale), tôi không hiểu bà nói gì, bà giải thích là đôi vàng không ai thèm mua, nên nó rẻ hơn những đôi khác. Chúng tôi vào mua đôi ấy, mất hơn sáu chục đồng, bà trả tiền rồi bảo rằng tôi nợ bà số tiền đó, khi nào đi làm có tiền trả lại.

Sáng sớm hôm sau, hôm thứ ba, bà đánh thức tôi dạy, bảo tôi đi theo Xi Mua lên Men hát tăn đi kiếm việc. Bà hỏi tôi có tiền đi xe lửa không, tôi có mười đồng nhưng dành phòng thân nên nói không có. Bà móc ví lấy tờ mươì đồng, đưa cho tôi nói “như vậy anh nợ tôi bẩy chục”, tôi nói ô kê. Rồi tôi đi theo Xi Mua ra trạm xe lửa mua vé đi lên Men hát tăn. Khi đến nới, tôi cứ theo Xi Mua đi trong rừng người đang chui ra từ những chiếc xe lửa tại Pen sừ tây sơn (Pennsylvania, gọi tắt là Penn station). Ra đến ngoại đường, Xi Mua quay sang tôi nói “Iu a ôn i-ua ôn, gút lấc” (bây giờ anh tự lo lấy cái thân anh, chúc anh may mắn). Rồi ông hẹn tôi, chiều năm giờ gặp nhau ngay tại chỗ đó. Tôi là thằng nhà quê, chưa bao giờ bước chân lên một thành phố Mỹ nên tôi sợ chiều không biết chỗ nào mà mò. Tôi bèn lấy giấy trong túi, vẽ một họa đồ nhỏ, và từ đó cứ đi đâu thì lại ghi vào.

Chân ướt chân ráo đến đất Mỹ mà Phơ Lo bắt tôi đi kiếm việc! Mà bà lại chẳng chỉ cho tôi đi chỗ nào, xin làm sao. Tôi nghĩ tôi biết nhiều từ y khoa, tôi nên đi vào bệnh viện, may ra nó cho mình làm thông dịch hay thư ký. Như thế, tôi cứ đi lòng vòng, bệnh viên nào cũng vô, chỗ thì nói nô dốp (no job), chỗ có việc làm da ni to (janitor) chùi dọn bệnh viện, thì nó hỏi ở Việtnam làm gì, tôi bảo tôi làm giáo sư, nó nói tôi ô vơ qua li phai (overqualified) và nó thanh kiu tôi. Tôi không hiểu ô vơ qua li phai là cái con khỉ khô gì nhưng buồn thì tôi càng ngày càng buồn. Đi bộ mỏi cả chân, nước không có mà uống, săn u-ít (sandwich) chỉ có hai đồng bạc nhưng không dám ăn, tôi thấy khốn khổ, khốn nạn. Tôi tưởng sang Mỹ là tự nhiên sướng, đâu dè những khó khăn của cuộc đời nơi đâu chẳng có? Mệt lả, tôi nhìn tôi trong những tấm gương lớn trước những cửa hàng và tự hỏi “Taị sao giờ này mình lại ở đây? Vợ con mình đâu? Sao phải lủi thủi một mình?” Tôi cảm thấy tôi bệ dạc, không còn ý chí nghị lực, không còn tự hào, không còn muốn cái gì nữa. Và cứ thế tôi lê chân đi khắp phố này đến phố kia tìm cái dấu hồng thập tự để vào. Đi đâu tôi cũng tự giới thiệu mình là tị nạn người Việt, cần tìm việc để sống.

Sau này tôi mới thấy tôi ngu, vì Mỹ nó có thương gì tị nạn Việt? Chiến tranh Việt nam là một vết ô nhục cho họ, họ chỉ muốn quên, khều cái vết thương đó ra cho nó lại chảy máu đâu ích gì? Ở Saigon tôi hận Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bây giờ tôi căm Mỹ không thương gì tôi hết. Thật là ngây ngô nhưng đó là cảm tưởng của tôi những ngày đầu tiên dậm chân trên đất Mỹ.

Hồi Ký “VỀ MỘT CUỘC RA ĐI" - Giáo sư Trịnh xuân Đính - Đến Panatnikhom

Posted: Wednesday, November 21, 2018 by Hung Nguyen in
0



Đến Panatnikhom Holding Center
Panatnikhom Holding Center, cũng còn có tên là Panatnikhom Processing Center, là trại mà tất cả những dân tị nạn đường biển và đường bộ ở Thái Lan đến để được phái đoàn  các nước nhận tị nạn trên thế giới phỏng vấn. Nơi đây có văn phòng đại diện thường trực của các cơ quan quốc tế như UNHCR, các JVC’s (joint voluntary agencies, hội thiện nguyện), và các cơ quan từ thiện. Nơi đây cũng là nơi tôi thấy có trường École Sans Frontières dạy tiếng pháp cho những ai xin đi tị nạn tại Pháp.

Nhà dành cho dân tị nạn làm bằng bằng fibro-ciment lợp tôn, từng giẫy dài, cứ bốn giẫy như thế tạo thành những ô vuông, ở chính giữa là khoảng đất trống mà dân tị nạn dùng làm nơi trồng các thứ rau và khoai. Đường đi là đường đất đỏ, không có điện nên đêm đến tối thui. Chỉ những đường chính và khu làm việc của các cơ quan là có đèn. Tôi được chỉ định ở tại căn nhà số 2G37.
Ngay ngoài trại, cách một hàng rào là một khu chợ nhỏ bán đủ thứ thực phẩm, quần áo, tạp hóa, cửa hàng ăn uống mà chúng tôi được tự do lui tới.
Trại Panatnikhom rất lớn đi từ nơi này đến nơi kia rất xa, mỏi cả chân. Ban ngày nóng như thiêu như đốt, có muốn ngủ cũng không ngủ được, thế mà ban đêm thì lại lạnh mà không có chăn mền, nên cũng lại không ngủ được ngon giấc. Cơm cho ăn thì tha hồ nhưng đồ ăn thì dở, nên phần lớn dân tị nạn phải đi chợ mua thêm thực phẩm về nấu riêng. Tôi sống với một số thanh niên nên được giúp đỡ nhiều.
Tại Panatnikhom, tôi gặp lại đươc anh Tâm là bác sĩ đã tốt nghiệp Đại học Y Saigon. Anh là
sinh viên trong những lớp pháp văn chuyên môn y nha mà tôi đảm nhiệm vào những năm bẩy sáu cho đến bẩy tám. Anh rất mến tôi từ những ngày còn ở đại học và nhận ra tôi, chứ tôi đâu còn nhiều trí nhớ sau những năm lao động khổ sở.

Nói chuyện với Tâm làm tôi nhớ lại những kỷ niệm vui buồn của những ngày sau khi cộng sản vào miền nam. Tôi vốn là nhân viên trường đại học Luật. Sau bẩy mươi lăm, trường Luật tạm ngưng hoạt động, các nhân viên ban giãng huấn vẫn được ăn lương nhưng không dạy học mà chỉ danh toàn thời gian tham dự lớp nghiên cứu chủ thuyết mác lê nin. Lớp này kéo dài cả năm trời, với những giảng viên cao cấp từ trường đảng ở Hà nội vào thuyết giảng. Chúng tôi  vừa học tập vừa phê bình và tự phê, tự kiểm thảo xem mình đã tiến bộ đến đâu. Mỗi tuần đều phải làm bài viết để bầy tỏ những gì mình đã hấp thụ được, đồng thời phê phán những ý niệm mới học về chủ nghiã cộng sản. Tha hồ mà ca tụng, mà tăng bốc Mác Lê nin, tha hồ mà nói hay nói tốt về cái biện chứng pháp, nâng bi đảng và nước ta đã khôn ngoan áp dụng uyển chuyển chủ thuyết cộng sản vào hoàn cảnh đặc biệt của đất nước, để đưa dân tộc ta tiến thẳng lên chế độ xã hội chủ nghĩa mà không kinh qua chế độ tư bản chủ nghĩa, vân vân và vân vân. Đến ngày phải bàn luận, phải bầy tỏ lập trường, phát biểu ý kiến, ai nấy cũng nhìn ai, xem ai nói trước và nói ra làm sao, vì mẹ kiếp, nói láo trên giấy thì dễ, nay phải đứng lên mà dùng cái mồm mà nói phét đâu có dễ, nó ngượng ngùng làm sao! Và nói phét vừa đủ để đừng bị kết tội là chưa học tập tốt, chưa hấp thụ những tư tưởng mới, chứ nói phét quá thì lại bị đồng nghiệp nhìn với một con mắt nghi ngờ, bảo rằng thằng này nằm vùng mà mình không biết, hay là thằng này ba mươi tháng tư muốn được kết nạp đảng.  Thế nhưng trong cái thời buổi rối ren, có lắm kẻ theo thời cơ chủ nghĩa, lắm kẻ tán tận lương tâm, sẵn sàng “hót cứt cho chủ mới của đất nước”. Khốn nạn  cho cái thân tôi, cũng bị “cuốn theo chiều gió”, cũng phải nói ngược lại những gì mình nghĩ trong đầu, đi ngược lại lòng mình, chỉ vì hoang mang sợ đi tù.
Mà đâu phải chỉ học tập tốt là đủ? Còn phải lao động tốt và chúng tôi cũng có những ngày đi đào mương, vét cống, những bàn tay trước kia chỉ quen cầm bút chấm bài phê điểm, nay cũng phải thò xuống bùn mà nâng những tảng đất rồi chuyền tay từ người này đến người kia, đến người chót tảng đất lớn chỉ còn bằng hai nắm tay, vì nó đã rơi rớt trên con đường vận chuyển. Nhưng rồi rốt cục trường Luật cũng bị đóng cửa, nhân viên giảng huấn nhận được giấy cho nghỉ việc, nhất là những người trong ban tư pháp, vì làm sao mà áp dụng luật tư bản vào xã hội xã hội chủ nghĩa? Vả lại như đã bàn đến trước đây làm gì có luật trong chế độ cộng sản?

Thế là ai nấy cố mà đi tìm nghề khác mà sinh sống. Có anh đi sửa đồng hồ, có anh đi dạy anh văn, có anh đi buôn, còn tôi may phúc đức tổ, có ông chú đi cách mạng về thấy thằng cháu đi
bán than cực đã đành, nhưng trông nó lại đen đủi như thằng ăn mày, mới nói “ thôi anh về dạy pháp văn bên trường y khoa. Để chú nói cho đồng chí bí thơ đảng bên đó!” Tôi đươc sang dạy pháp văn chuyên môn, dạy toàn những danh từ y nha khoa, dạy riết, đọc riết các báo y nha khoa bằng tiếng pháp, tôi nói chuyện y khoa nghề tới độ nhiều sinh viên năm thứ ba, thứ tư hỏi tôi “Thầy là bác sĩ hả thầy?” Tôi bảo tôi có là bác sĩ cái khỉ khô gì đâu. Vì đọc hoài tôi nói ra như con vẹt, nói riết thành ra nói như thể mình tin ở những lời mình nói, thành ra sinh viên mới tuởng như thế. Nhưng đó cũng là một điều hay bởi vì trước kia tôi có biết giây thần kinh mơ hồ là cái gì, thế mà sau đó tôi dám nói với các sinh viên rằng cắt cái giây thần kinh mơ hồ đó đi thì nó không còn kích thích cái bao tử tiết ra chất a xít và do đó chữa được cái bệnh đau bao tử. Làm sao mà sinh viên không tưởng tôi là bác sĩ khi những điều tôi nói đó lại chỉ mới phổ biến trong các tạp chí y khoa, chưa thông dụng trên thực tế.

Sau này đi vượt biển hụt, đi tù rồi trở về, làm sao còn đi dạy được nửa, tôi bèn quay ra đạp xích lô, khi chở khách vào Chợ lớn ngang qua trường y, tôi nhớ lại những bạn cũ muốn vào chơi quá. Trong số bạn nơi đây, tôi có anh Châu chơi rất thân với anh Trung làm bên khu giải phẫu. Sinh viên thường thực tập giải phẫu trên chó đã bị gây mê. Sau mỗi buổi thực tập như vậy, có mười mấy con chó được đem cho những nhân viên nào thèm thịt. Dưới xã hội xã hội chủ nghĩa, thịt heo, thịt bò, thịt gà đều đắt, ai cũng ăn thịt chó vì nó rẻ. Do vậy mà ai nấy đều dành những con chó đã bị giãi phẫu đó. Nhưng vì có tay trong, nên lâu lâu anh Châu lại mang về được một con. Nhưng anh lại không biết làm chó, và càng lại không biết nướng chả chìa hay nấu rựa mận. Luộc thì dễ quá, nhưng không lẽ luộc cả con chó? Do vậy mỗi khi mang được một con về nhà là anh kêu các bạn đến nhậu, nhưng không lẽ mang con chó sống ra mà nhậu, anh đành bảo ba bốn đứa đi tìm tôi ở những nơi tôi thường đậu xích lô chờ khách. Và thấy mùi chó là tôi bỏ cả khách mà về.

Chúng tôi lên tuốt mái chung cư Nguyển Thiện Thuật đun nước sôi cạo lông chó, lấy sách y khoa và tự điển ra thui chó, xong rồi nào chặt, nào băm, nào thái, chúng tôi dùng đủ thứ gia vị tiêu hành tỏi riềng, lá mơ, mắm tôm. Đứa thì dọn dẹp cho sạch sẽ, đứa thì chuẩn bị bát điã, ly, đế, bún, bánh đa, đứa thì lo nướng chả, đứa thì canh nồi luộc, còn tôi thì chuyên nấu nướng.
Khi xong món luộc thì vớt ra cho nguội, khi chả vừa chín thì bắt đầu ngồi nhậu. Nửa tiếng sau hết chả thì có đứa ra thái thịt luộc, và thêm nữa tiếng nữa thì đến món rựa mận ăn với bún. Bắt đầu nhập cuộc với mươi người mà sao chúng nó ngửi thấy mùi ở đâu mà cứ đến thêm, mỗi đứa sách theo chai rượu, nào thuốc, nào than, nào rắn, nào ông già, cuối cùng đứa nào cũng say mèm, đi không vững, ăn nói lè nhè. Nhưng ít ra cũng quên đời được một lúc! Riêng tôi, lại leo lên xích lô đạp về nhà, miệng hát “ Je suis parti, sans un adieu, il valait mieux pour tous les deux, laisse-moi te dire, laisse-moi te dire, je t’aimais bien…”

Những ngày ở Panatnikhom, sáng tôi đi dạy pháp văn ở Ecole Sans Frontières, nhà số 3C20, trưa về làm đơn nộp xin được phỏng vấn. Tôi được phái đoàn pháp kêu trước tiên. Tôi được một viên đại tá pháp già, tên colonel Tricorneau phỏng vấn.
Sau khi hỏi tôi tại sao xin đi Pháp, đã học hành đến đâu, học ở đâu, đi làm những đâu, làm những gì, ông hõi tôi có vợ con không. Tôi trả lời tôi có một vợ, bốn con. Ông hỏi vợ con tôi đâu, sao không đi theo để được phỏng vấn, tôi bèn trả lời họ ở lại Việt Nam. Ông vổ vào đùi cái đét, cười phá lên và nói “Ben alors! Vous êtes géographiquement célibataire!” (Ồ như thế trên phương diện địa dư, anh chưa có vợ đấy nhé!). Sau đó, ông bảo tôi được chấp nhận trên nguyên tắc, và nếu không có gì trắc trở, tôi sẽ đi Pháp trong tháng tám.
Sau đó một thời gian ngắn, tôi được phái đoàn Mỹ kêu. Tôi đến gặp một người Mỹ da đen, ông tự giới thiệu là cựu trung úy thủy quân lục chiến. Ông hỏi tôi đại khái giống như bên phái đoàn pháp đã hỏi. Sau cùng, ông nói với một giọng mà tôi nghe tôi thấy khó chịu “ông đã được nhận vào Pháp, tại sao ông còn xin vào Mỹ?” Tôi trả lời “Pháp không chịu trách nhiệm gì trong vụ xụp đổ của miền Nam Việtnam. Họ nhận tôi vì tinh thần nhân đạo. Còn Mỹ phải trả món nợ này cho chúng tôi vì nếu Mỹ không nhúng tay vào Việt Nam, thì giờ này tôi không phải ngửa tay xin ông một cái gì hết”. Nghe tôi nói một chập như thế y cáu hỏi tôi “ông tính xin vào Mỹ làm chính trị hả?” Tôi nói tôi không có khả năng làm chính trị. Y hỏi tôi đã đi học bên Mỹ chưa? Tôi bảo
chưa, y lại hỏi tôi đã làm cho cơ quan Mỹ nào ở Việt nam chưa. Tôi cũng bảo chưa. Thế là y nói “Ông không có một ưu tiên nào để vào Mỹ hết. Tôi khuyên ông đi Pháp”, tôi cáu tiết nói “ tôi không cần lời khuyên của ông. Tôi chỉ xin ông cứu xét lá đơn của tôi một cách công bằng”. Rồi tôi đi về. Hai hôm sau tôi nhận được tờ bảo lãnh của dân biểu Norman Lent viết trên giấy có ăng tết (entête) “Congress of the United States of America”, tôi đem đến tính đưa cho phái đoàn Mỹ để bổ túc hồ sơ. Tôi gặp một cô gái Mỹ trẻ đẹp, tóc vàng óng ánh dài chấm mông, chân đi đất, trông như một nàng tiên, tôi liền nhờ cô làm một phô-tô-co-pi bổ túc hồ sơ và cho lại tôi bản chánh. Cô cầm lá thơ đọc, xong cô bảo tôi chờ. Cô đem lá thơ ấy đưa cho tên Mỷ đen hôm trước phỏng vấn tôi. Tôi thấy sắp sửa có chuyện nên chuẩn bị tinh thần để đối đáp với tên này. Y ra nhìn tôi, nhớ ra tôi, cười lịch sự rồi đưa tay ra bắt tay tôi. Tôi chưa hiểu chuyện gì đã xẩy ra thì y nói “ How did you get to know this big shot?”. Tôi liền nói dóc “He’s a friend of mine. We met in Saigon” Y nói “I’ll have your application processed immediately. You are admitted to the US.” Tôi vênh mặt lên nói “Thank you for your quick response! I appreciate it.” Rồi tôi đi về nhà như cờ nở ra trong bụng. Tôi nghĩ “Mẹ kiếp! có thế chứ!” (Tôi xin lỗi bạn đọc vì lối ăn nói cu li xích lô của tôi).
Những ngày hôm sau tôi ra cái bảng trước văn phòng của phái đoàn Mỹ, dương mắt ra nhìn xem có tên mình hay không, nhưng không thấy có, lòng đã buồn buồn, nhưng không muốn đến hỏi lại xem sao. Thôi đành chờ vậy. Chừng bốn năm ngày sau quả nhiên tôi có tên đi Mỹ, tôi bèn đến cám ơn phái đoàn pháp.
Khi nói với bốn đứa bạn tây ở école sans frontières là Bernard, Christophe, Annie, và Bernadette, thì chúng nói “như thế chúng tao sẽ không gặp lại mày được!” tôi bèn trả lời “C’est ma destinée! J’espère vous revoir en Amérique alors!” (Đó là cái số của tôi. Tôi mong gặp lại các bạn bên Mỹ vậy) Thật ra trong bụng tôi sung sướng vô chừng. Chính ông thầy tôi, thạc sĩ Pierre Catala, người đã nhận bảo lãnh tôi, đã khuyên tôi “Les horizons sont beaucoup plus ouverts en Amérique. Si vous pouvez y aller, n’hésitez pas, cher ami…”(Chân trời Mỹ rộng mở
hơn nhiều. Nếu anh đi được sang Mỹ, anh không nên ngập ngừng …)
Tối hôm đó tôi đổi một đô la ra hai mươi bát (baht, tiền Thái) và tôi ra cái chợ kia ngồi vào ăn một tô hủ tiếu và uống một chai bia để ăn mừng một mình! Ôi tôi thấy cuộc đời tôi đã khởi sự nhuộm mầu hồng, không còn đen như mõm chó nữa.

Sang Panatnikhom Transit Center

Ngày tôi thấy tên tôi trên danh sách cũng là ngày tôi được biết rằng đến hai mươi bẩy tháng bẩy tôi sẽ chuyển sang tơ răng dít sen tơ (Transit Center), nơi tôi được khám sức khỏe và chờ ngày đi đảo. Đi đảo đây không phải là bị đầy ra đảo. Đảo đây là đảo Ga Lăng bên Nam Dương, gần Tân Gia Ba (Singapore), nơi các dân tị nạn bên Thái được đi Mỹ phải qua ở đó chờ một thời gian trước khi được lên lít-đờ-vôn (liste de vol) tức là danh sách những người được lên máy bay. Như thế tôi đả phải ở tại tờ-răng-dít xen-tơ có bốn ngày.


Hồi Ký “VỀ MỘT CUỘC RA ĐI" - Giáo sư Trịnh xuân Đính - Đến NW9

Posted: Saturday, November 17, 2018 by Hung Nguyen in
0



Đến NW9

Trại NW9 được thiết lập ngay tại vùng biên giới Thái-Miên vào tháng tư năm một ngàn chín trăm tám mươi cho riêng những người tị nạn Việt nam, mặc dù có một số ít người Miên, người Hoa và người Lào. Trại này đóng cửa khoảng hơn một năm sau đó, vào tháng bẩy năm một ngàn chín trăm tám mươi mốt và đã bị thiêu hủy. Trại được quản lý trên nguyên tắc bởi tổ chức UNBRO (United Nations Border Relief Operation) tức là cơ quan thuộc liên hiệp quốc cứu nạn
tại vùng biên giới Thái-Miên. Nhiều cơ quan từ thiện cũng đã hoạt động giúp người tị nạn tại NW9 như là CRS (Catholic Relief Services), IRC (International Rescue Committeee), MSF (Médecins Sans Frontières) và ICRC (International Committee of the Red Cross).
Vì trại nằm trên đất Thái nên có một lực lượng thũy quân lục chiến Thái do một thiếu tá tên Viroh Tobias lãnh đạo đứng ra bảo vệ an ninh chống lại những vụ truy kích của bộ đội Việt Nam. Tôi nghe nói những lúc cao nhất trại có đến năm ngàn người tị nạn và khi trại đóng cửa, dân tị nạn được chuyển tới Panat nikhom một phần và tới trại Sikev một phần.

Khi tới NW9, tôi được đưa đến nơi ban đại diện trại đón tiếp những kẻ xin gia nhập trại. Đó chỉ là một căn nhà lá nhỏ ở lối vào trại, trên một con đường đất đưa đến một cây cầu nhỏ băng qua một giao thông hào vào bên trong. Giao thông hào chạy xung quanh trại là vết tích của thời kỳ trước khi mà trại thường hay bị pháo kích vào và đôi khi các lực lượng kình địch tại khu biên giới xáp chiến rồi bộ đội Việt nam truy kích đến tận cửa trại, buộc dân trong trại trốn xuống giao thông hào hay phải tản cư.
Tại văn phòng tiếp đón, một số người vượt biên đường bộ cũng đã có mặt ở đó. Từng người một, chúng tôi bị kiểm tra lý lịch để biết chắc chúng tôi không là cộng sản. Những lính cộng sản vượt biên đều bị chuyển đến trại tị nạn Sikev nơi đây, tôi nghe nói, họ bị nhốt để điều tra cả sáu bẩy tháng và sau đó tùy trường hợp được cứu xét để được hưởng chế độ tị nạn.
Đến lượt tôi, tôi được phát giấy tờ để khai lý lịch và sau đó bị tra vấn. Tôi khai trước tháng tư
năm bẩy mươi lăm tôi làm phụ khảo tại đại học Luật Khoa Saigon nên ban tiếp đón đặt trọng tâm những câu hỏi vào trường Luật. Tôi nghĩ trong đám bốn, năm người trong cái gọi là “ban đại diện trại” đang ngồi oai vệ hoạch họe tôi, có một hai người biết về cái trường Luật ở Saigon thời xưa.
Như thế tôi được hỏi nhiều câu về cái trường thân yêu của tôi, như ai là khoa trưởng, ai là trưởng bộ môn này bộ môn kia, ai là tổng thư ký, ai dạy môn này môn kia, tôi làm ở đó có biết
người này người kia hay không, tôi về làm phụ khảo từ năm nào, ai làm phụ khảo cùng với tôi,
trước đó tôi làm gì, vân vân.. Tôi đã trả lời thoả đáng những câu hỏi đó và được cấp cho một số căn cước là TC #155905. Rồi tôi được chỉ đến chỗ phát những đồ cứu trợ như xà bông,  khăn mặt, bàn chải đánh răng, giấy viết thơ, bút viết …

Sau đó tôi về nơi tôi được chỉ định tạm trú trong thời gian ở NW9. Đó là một căn nhà tranh dài cả trăm thước chỉ che có ba mặt, còn mặt trước để trống. Căn nhà làm có tính cách tạm thời cột chống bằng tre, chia ra làm từng phòng ngang khoảng ba thước, mỗi căn như thế có ba hay bốn người ở. Căn tôi đến đã có hai thanh niên là hai anh em Hải và Thiện trú ở đó rồi.
Khi thấy tôi khập khiểng tiến tới, vẻ mặt bơ phờ như người mất hồn, Thiện không tránh khỏi rũ lên cười. Căn phòng ấy trống chơn, chỉ có nền đất, chẳng hơn gì những nhà tranh dựng lên tại những khu kinh tế mới. Để có chỗ nằm nghỉ hay nằm ngủ dân tị nạn lấy những bao gạo xé ra làm thành võng, treo giữa các cột tre.
Tôi mới đến chẳng biết u tê gì, rất may được Thiện thương tình giúp đỡ. Anh lo đi xin bao tải về làm võng cho tôi. Anh nói chuyện với tôi cho tôi đỡ buồn, những ngày ở NW9 không có Thiện, tôi không biết tôi sẽ cô đơn thế nào. Chúng tôi ăn cơm với nhau, ngồi tâm sự với nhau, tôi giúp chỉ cho anh ít anh văn, anh giúp tôi đi lấy thức ăn và nước uống. Tôi nhớ mỗi ngày chúng tôi chỉ được có sáu lít nước để dùng trong mọi việc, nấu cơm, giặt rũ, tắm rửa. Sau này chuyển sang mùa mưa chúng tôi bớt phải lo vấn đề nước. Từ ngày sang Mỹ, nhiều lần tôi cố hỏi thăm mà không bìết giờ này anh ở đâu.

Tôi ở trại này bốn mươi bẩy ngày, thời gian đau đớn nhất trong cuộc đời tị nạn. Tôi thường trực bị lương tâm cắn rứt vì tôi đã ra đi để lại đứa con nhỏ, sống chết ra sao không biết, ở phía bên kia biên giới. Đêm đến, hình ảnh cháu bơ vơ một mình chống trọi với bao nhiêu khó khăn nơi đất lạ quê người, cứ lởn vởn trước mắt tôi làm tôi không làm sao chợp mắt cho được. Tôi thường ra ngồi một nơi vắng vẻ nào đó, tay cầm điếu thuốc, mắt nhòa những lệ, tưởng tượng ra nếu tôi là cháu thì bây giờ tôi phải ra sao, phải làm gì để mà sinh tồn, để mà báo tin hay tìm đường về nhà? Và tôi cứ nghĩ luẩn quẩn, không giải quyết được gì, để rồi ngày hôm sau nó vẫn như thế, vẫn trở lại ám ảnh tôi. Tôi không nhận được tin gì mới từ những vị bác sĩ làm việc tại
Nông Chan. Họ đả từng hứa với tôi rằng họ sẽ cố gắng nhờ những người Miên dọ hỏi tin tức về cháu bé cho tôi và giúp tôi đưa cháu qua biên giới đến NW9 để hội tụ với tôi. Nhưng tôi nghĩ chẳng có kết quả gì.
Thêm vào đó có tin nói rằng chính phủ Thái chuẩn bị đóng biên giới, không cho những dân tị nạn, nhất là người Việt, sang bên đất Thái nữa. Dân Thái cũng như dân Miên vốn không có cảm tình với dân Việt, nay lại thường xuyên có những cuộc vi phạm biên giới do bộ đội Việt đóng quân bên Kămpuchia, nhà cầm quyền Thái lại càng khắt khe hơn. Tôi cảm thấy rất may mắn đã sang được tới nơi đây, nhưng con tôi thì sao? Nếu cháu bị cầm tù một hai tháng tại Xi xô phôn rồi được thả ra, thì cháu cũng sẽ bị trở ngại khi muốn vượt biên sau khi lệnh đóng cửa
đã được chấp hành.
Và tôi cũng chẳng nhận được tin tức gì từ Saigon, vì thơ từ qua lại rất chậm chạp, có khi cả tháng một lá thơ gởi đi mới đến tay người nhận. Nhiều lần tôi phãi gởi qua trung gian một nước thứ ba có liên hệ ngoại giao với cộng sản Việt Nam, như Pháp chẳng hạn. Sự khó khăn liên lạc với bên nhà làm tôi vốn đã sốt ruột lại càng sốt ruột hơn, tôi cứ như ngồi trên lửa mà không tìm được sô nước để dập tắt ngọn lửa đang nung nấu đít tôi!

Tình trạng bê bối trong việc quản lý trại, việc ban đại điện ăn trộm ăn cắp đồ tị nạn cung cấp cho dân trong trại để đem bán, sự việc những tên trong ban điều hành hổng hách, quấy nhiểu dân trong trại, cắt xén đồ phát ra, ăn chặn cơm cháo của dân, thông đồng với những tên lưu manh trong đám dân tị nạn để buôn lậu bán chợ đen, v.v… làm tôi càng nhụt chí và quả thật con người ở nơi nào cũng tham lam, bất nhơn, vô tư cách, không phải chỉ trong cái thế giới cộng sản. Ở đâu con người cũng coi trọng đồng tiền, cũng cần đồng tiền để mà có hạnh phúc ấm no. Chẳng thế mà trong trại tị nạn NW9 bao nhiêu đàn bà con gái nhà lành đã chịu làm đĩ, đi ngủ đêm với những kẻ có quyền hành trong trại hay những kẻ có tiền do người nhà ở ngoại quốc gởi cho, để có cái vật chật cần thiết thỏa mãn nhu cầu thể xác của họ. Ở bất cứ nơi nào, khi con người cùng cực thì nó đả trở thành con vật, không còn lương tri, không còn trí khôn, chỉ còn bản năng hưởng thụ. Hịện tượng đó thật rỏ ràng nơi cái trại vùng biên giới ấy.

Những lúc rảnh rổi, tôi hay tới ngôi trường nhỏ trong trại lập lên để dạy cho những ai muốn học một ít sinh ngữ trước khi đi định cư. Tôi làm quen với người trông coi cái ngôi trường ấy và những người tự nguyện dạy tại nơi đó miển phí cho học viên. Tình cảm gắn bó con người với con người, và sinh hoạt nơi ngôi trường đậm tình anh em. Khi người đứng lo cho ngôi trường được giấy chuyển trại, anh biết tôi cũng là thầy giáo nên nhờ tôi giúp đỡ làm công việc kế tiếp thay anh. Tôi đang buồn và không có viêc gì làm nên nhận. Tôi không hay rằng khi nhận làm công việc ấy, tôi có được chút bổng lộc, như được ở ngay tại ngôi trường, nơi đây có một căn phòng khá tươm tất cho hiệu trưởng trong đó có chõng tre, có nhà bếp, có thùng chứa nước tắm. Ngoài ra, mỗi ngay tôi được một khẩu phần do hội từ thiện Ke thô lích che ri ti (Catholic Charities) cho, ngoài phần cơm với cá hộp của mỗi dân tị nạn. Tôi dạy cả tiếng pháp cho những ai tính đi pháp và tiếng anh cho những ai tính đi Mỹ hay đi Úc. Trong hoàn cảnh khó khăn của người đi tị nạn, tình thầy trò càng thắm thiết, làm tôi bớt suy tư và bớt buồn, ít ra lúc ban ngày khi bận bịu.
Nhưng về đêm những lo âu và suy tư vẫn gậm nhấm hồn tôi cho đến ngày tôi rời trại NW9 để đi Chonburi, khi tôi nhận được tin cháu bé đã về đến Saigon và đang bị nhốt ở nhà tù trung ương Chí Hòa. Tuy còn đau buồn vì cháu vẫn phải đi tù, nhưng ít ra là cháu còn sồng sót và đã khôn ngoan tự mình tìm được đường về đến Tây Ninh, để rồi lại bị bọn công an bắt giải về Saigon, tính làm tiền chúng tôi. Nhưng vợ tôi không còn tiền để chạy và chúng tôi nghĩ trước sau gì thì chúng cũng phải thả thằng bé ra, vì không ai bỏ tù một đứa bé mười hai tuổi lâu quá một hai
tháng.
Nhưng chúng tôi đã lầm. Bọn khốn nạn đó, không ăn được tiền của chúng tôi, đã trả thù và nhốt cháu bé sáu tháng trời! Lòng dũng cảm của cháu bé đã thể hiện qua sự chịu đựng bền bỉ và sự khôn ngoan, cháu đã lợi dụng khả năng nhào lộn của mình để giúp vui cho những người trong tù và được bà con thương mến, cho ăn thêm quà trong khi bọn cai tù không cho mẹ cháu tiếp tế thực phẩm.
Ngày cháu được thả về, cháu gầy gò ghẻ lở, lúc gọi cửa, mẹ cháu lại tưởng là một tên ăn mày, xua tay đuổi, cho đến khi cháu lên tiếng “ mẹ ơi, bé đây này!” (bé là tên ở nhà gọi cháu) thì mới nhận ra con mình! Ôi thật là đứt ruột đau lòng!

Nói về NW9, tôi còn vài ba kỷ niệm tô đậm đoạn đầu của cuộc hành trình đi tị nạn của tôi. Khi tôi nhận quản lý ngôi trường nhỏ bé ấy, thiếu tá Tobias, người đặc trách an ninh trại, gọi tôi lên văn phòng ông. Ông muốn tôi mỗi ngày nửa tiếng dạy ông nói tiếng Việt. Thật là một chuyện ngạc nhiên vì bình thường  người Thái không ưa người Việt và họ thường nói tiếng Miên khi liên lạc với chúng tôi rồi kiếm một tên Miên biết tiếng Việt thông dịch. Như thế, mỗi khi tôi lên dạy xong buổi học, tôi thường được ông tặng vài cái kẹo, bao thuốc, ít gói đường hay cà phê nho nhỏ, và như thế cuộc đời tôi thấy bớt khổ. Vì thời gian tôi ở NW9 quá ngắn, tôi chưa kịp nhận được tiền viện trợ của bà con thân thuộc ở ngoại quốc, những ngày không có cà phê thuốc lá, tôi thấy cuộc đời tôi thiếu thốn làm sao!
Mười ngày trước khi có tin được chuyển trại, vì cứ đinh ninh là sẽ phải chờ cả năm tại NW9, tôi đã được một người quen giới thiệu đi làm thông dịch viên cho một cơ quan tình báo hổn hợp Mỹ Thái. Cơ quan này đưa nhân viên đi phỏng vấn những tên bộ đội vượt biên hiện bị giữ điều tra tại nhiều trại tị nạn ven biên, và nhất là tại trại Sikev. Tôi đã gặp nguời Mỹ phụ trách tuyển người, và được cho biết mỗi tháng được năm trăm đô la lương, nhưng số tiền này không được lãnh ra mà phải để trong một chương mục, khi đến Mỹ mới được sử dụng. Thời gian ở Thái tôi được lo cho ăn ở đàng hoàng, không tốn kém gì hết và phải ký hợp đồng hai năm. Như vậy không còn vấn đề phãi xin đi tị nạn, sau hai năm muốn làm tiếp thì làm, nếu không, thì đương nhiên được cho đi Mỹ. Tôi đã xin một tuần để suy nghĩ và đã tính nhận thì có tin tôi được lên danh sách đi Chon bu ri để làm giấy tờ đi một đệ tam quốc gia. Do vậy mà tôi đổi ý định, không nhận công tác đó nữa.
Sau khi ở trại NW9 được một tuần, tôi đã mần mò làm quen được với một số nhân viên Hồng Thập Tự quốc tế làm việc tại đấy. Cứ đến cuối tuần là họ về Băng Cốc. Và trước khi họ đi, tôi nhờ họ gởi hộ thơ qua hội HTTQT nên không mất tiềm tem. Như thế tôi gởi thơ xin cầu cứu được tới cả chục người ở Thái lan, Tân Gia Ba, Pháp và Mỹ, những người này là bạn của bác và cô tôi ở Saigon. Trong số những người tôi viết thơ cho có Lý Quang Diệu, cựu thủ tướng Tân Gia Ba, Thanat Khoman, cựu thủ tướng Thái Lan, lúc đó là thượng Nghị Sĩ ờ Băng Cốc, Bác sĩ Gellerman và Dân Biểu Norman Lent ở Nữu Ước, Bác sĩ C. C. Congdon, thấy của cô tôi khi bà đi du học ở Hoa Kỳ, Thạc sỉ giáo sư Pierre Catala ở Đại Học Luật Khoa Paris, và Giáo Sư Tiến Sĩ Luật Varee Vichayanonta ở Đại Học Luật Khoa Bangkok. Sau đó tôi nhận được những thơ nhận đỡ đầu của Bác sĩ Gellerman, Dân Biểu Norman Lent, và giáo sư Pierre Catala. Giáo Sư Varee Vichayanonta đã đích thân lái xe xuống tận trại NW9 thăm tôi cho quà và tiền. Giáo sư Varee, đậu tiến sĩ ở Pháp, là bạn của cô tôi. Bà nói chuyện với tôi bằng tiếng pháp, thân tình hỏi thăm cô và bác tôi còn ở lại Saigon. Bà cũng tỏ ra lo lắng cho tình trạng của tôi lúc bấy giờ. Tôi đã cảm động, thành thật cám ơn bà và xin nhận quà nhưng từ chối nhận tiền. Sau này khi lên Băng Cốc bà còn đón tôi đi chơi và đưa về nhà. Thật là một nghiã cử tốt mà tôi vẫn còn nhớ cho đến ngày nay.

Thế rồi cái gì phải đến đã đến. Ngày mười hai tháng sáu, tôi cùng với khoãng một trăm năm chục người tị nạn khác rời NW9 đến trại Pa nát ni com hâu đinh sen tơ (Panatnikhom holding center) ở tỉnh Chon bu ri. Phái đoàn của toà đại sứ Mỹ ở Băng Cốc, trong đó có một phụ nử Việt trẻ đẹp, mà ai cũng biết tiếng trừ tôi, là bà Chấn, cũng có mặt trong buổi chuyển trại này. Nhân viên hội Hồng Thập Tự quốc tế đã điều động cuộc ra đi. Chúng tôi lên xe buýt đi lúc mười một giờ ba mươi sáng và xe chạy vù vù qua một vùng quê Thái trông không khác vùng quê ở miền tây nước mình, với những ruộng lúa chín vàng, thẳng cánh cò bay. Xe đi hơn ba trăm cây số và đến nơi lúc hai giờ ba mươi trưa. Nhìn trại Pa nát ni com, tôi thấy phấn khởi, vì trại khang trang và đẹp mắt hơn NW9 nhiều.