Hồi Ký “VỀ MỘT CUỘC RA ĐI" - Giáo sư Trịnh xuân Đính: Đi Châu Đốc

Posted: Monday, October 29, 2018 by Hung in
0


Chương Hai

Đi Châu Đốc



Hai Học ra đường gọi một chiếc xích lô rồi vào kêu Xinh và con tôi ra lên xe. Tội nghiệp thằng bé chẳng kịp nói câu gì với mẹ và chị nó để từ biệt. Vợ tôi và cháu gái lớn mười bốn tuổi chỉ biết đứng sừng sững đó, đau lòng nhìn theo. Sau đó, tôi và Hai Học leo lên chung một chiếc xích lô khác ra đi. Tôi nhìn vợ tôi và con tôi lần chót mà chẳng nói một lời nào. Tôi không hiểu tại sao lúc đó tôi không có cảm giác buồn, mà trái lại tôi lại thấy vui vui, thấy người nhẹ nhõm lạ lùng. Dường như vì tôi đã tìm được cho chính bản thân tôi một lối thoát.

Những ngày sống tại Saigon kể từ sau tháng chín dương lịch năm một ngàn chín trăm bẩy mươi tám, khi cuộc vượt biên lần đầu của chúng tôi thất bại, đối với tôi thật là ngột ngạt khó thở. Tôi đã phải sống những ngày vô vị, với cảm giác chán chường ray rứt, gậm nhắm tâm hồn tôi từ từ, từ từ. Chưa bao giờ tôi đã cảm thấy bất hạnh bằng lúc ấy.

Tôi bất mãn vì cuộc ra đi lần đó của chúng tôi đã  không những làm hao hụt số vốn liếng mà chúng tôi đã dành dụm suốt mười mấy năm trời, mà lại còn đưa cả gia đình tôi vào lao tù công sản. Phần mất cho chủ tàu đả đành, lại thêm phần mang theo bị bọn công an địa phương cướp mất. Sự mất mát tài sản này làm tiêu tan giấc mơ đươc đi định cư  nước ngoài của gia đình tôi. Nay còn đâu tiền để mà tham gia vào một cuộc vượt biển nữa cho cả gia đình? Từ đó tôi nẩy ra ý định ra đi một mình.

Đi tù lần đầu tiên trong đời, mà lại là tù cộng sản, tôi đã thấy ôi thấm thía làm sao! Tôi còn nhớ rõ lúc chiếc nghe lớn chở khoảng năm mươi anh em trí thức chúng tôi và gia đình đang lênh đênh ở cửa biển Gò Công thì bị công an biên phòng tóm bắt. Khi ở tù, tôi đã cầu trời khấn phật để tôi được thoát khỏi cái nơi đầy đọa thân xác con người này, tôi đã tưởng rằng sự trả lại tự do, sự trở về sống với gia đình là mối hạnh phúc to lớn nhất trong đời. Tôi đã nghĩ rằng dù có phải đổi bất cứ cái gì thì tôi cũng đổi để được phóng thích, để được trở về nhà. Nhưng khi được ra khỏi tù thì tôi lại thấy rằng những ngày ở trong tù tâm trí tôi lại ít bị dằn vặt hơn, tôi không tìm lại cái hạnh phúc mà tôi đã mơ tưởng. Thậm chí tôi lại còn nghĩ rằng trong thời gian ở tù, tôi lại ít bị day dứt bởi những hình ảnh đau lòng vì tôi không thấy trước mắt khi ờ trong nhà giam. Trở về sống tại Saigon, nhìn lại các bạn cũ với những bộ mặt buồn rầu chán nản, nhìn lại những người thân yêu sống trong buồn tủi và thiếu thốn vật chất, nghĩ đến thân phận mình, nghĩ đến tương lai mịt mờ của các con tôi, nhìn sự vất vả và ưu tư của mẹ tôi, sự bất mãn cùng cực của em gái tôi, nghĩ đến ngày nào các anh tôi mới được thả khỏi nhà tù cải tạo xa tuốt ngoài bắc, tôi đã thấy rằng những ngày sống trong tù sung sướng hơn.

Thật là khó hiểu, thật là mâu thuẫn. Chỉ những ai sống như tôi mới hiểu được cái tâm trạng nghịch thường như thế. Đó cũng là cái tâm trạng của những người đi cải tạo về, phải nhìn những cảnh đau lòng mà thấy mình bất lực. Ở tù tuy có cái khổ về mặt vật chất, có sự thiếu thốn về những mặt “ăn, ngủ, tắm, giặt” như bọn cai nhà tù việt cộng thường nói, nhưng dần dần chúng tôi đã quen đi. Chúng tôi quen đi với lối sống cách biệt với bên ngoài, chúng tôi đã hội nhập cái môi trường khép kín, xa với cái thế giới thực tế, không còn lo âu hay buồn phiền, không còn tình cảm, không còn nước mắt cho những người thân yêu. Lo cũng chẳng được nên chúng tôi đã quen với lối sống ích kỷ, sống cho riêng mình và chỉ cho riêng mình mà thôi. Những ưu tư có chăng chỉ là những ưu tư cá nhân, không dằn vặt mình như những ưu tư vì những người mình thương yêu. Không gì khổ tâm cho bằng phải bất lực đứng nhìn những người thân khổ sở.

Và như thế, tôi đã không buồn, không khóc, không ưu tư mà giã từ người vợ tôi thương yêu nhất trên đời. Vào những phút chia ly đau thương đó, tâm trí tôi đã bị chi phối hoàn toàn bởi sự háo hức được ra đi, được giải thoát. Tôi đã quên đi tất cả… Sau này, những ngày đêm ở trại tị
nạn NW9 (North West Nine), cái tên chỉ vị trí trại nơi biên giới Thái Miên, tôi đã một mình ngồi khóc, khóc đầm đià nước mắt, khóc nức nở khi nhớ gia đình, nhớ vợ con. Tôi đã hối hận vì hành động bồng bột của mình khi quyết định bỏ lại những người thân yêu mà ra đi. Xa họ tôi mới thấm thía, mới biết buồn. Nhớ thương tràn ngập tim tôi. Tôi đã cảm thấy cô đơn lạ lùng. Tôi thấy cuộc đời vô nghĩa, vô lý, vô vị. Rồi cuộc đời tôi sẽ trôi về đâu, khi tôi sẽ phải một mình chống chọi những khó khăn của thực tế và những ưu tư ám ảnh tâm hồn? Vào những giờ phút day dứt lòng đó, những mục đích cao cả đầy ý nghĩa mà tôi đã tự đặt cho sự hy sinh ra đi của tôi đã tan biến đi đâu, tôi cũng chẳng biết. Đầu tôi trống trải lạ thường. Tôi đã không còn biện minh được cho sự ra đi của mình vì tôi đâu còn lý trí? Làm sao tôi có thể giải thích sự trống trải lạ lùng trong đầu tôi, những câu hỏi quay cuồng trong tâm trí, sự vẫy vùng của lương tâm đang bị ray rứt, cảm giác tuyệt vọng và sự rã rời của tâm hồn? Làm sao còn được lý trí trong đau khổ và tuyệt vọng?

Bấy giờ tôi mới hiểu được tại sao trong một lúc nào đó của cuộc đời, khi mình quẩn trí, khi mình thấy không còn lối thoát, thì mình dễ dàng có những hành động điên rồ, như tự hủy hoại thân mình, như đi tìm cái chết chẳng hạn. Tôi có một người anh họ bên vợ đã treo cổ tự tử ngay trong buồng tắm nhà mình sau mấy ngày đựơc thả tù. Hơn năm năm học tập cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, anh đã kiên trì đợi ngày được thả, để rồi khi về nhà chẳng thấy cái hạnh phúc anh vẫn từng mơ tưởng mà chỉ thấy thất vọng ê chề. Mới vài ngày đi tìm hạnh phúc, anh đã đủ chán chường để hèn hạ đi tìm sự giải thoát cho chính mình bằng cái chết. Hèn hạ vì anh đã không đủ can đảm chống chọi những khó khăn do thời cuộc gây ra. Trong một phút yếu đuối cùng cực, anh đã không chủ động được nữa, và đã làm một hành động điên rồ.

Tôi cũng đã từng biết những giây phút yếu đuối cùng cực đó. Nhưng may mắn cho tôi là ngay sau đó tôi lại tự chủ được. Lý trí đã trở về với tôi kịp thời, nếu không tôi đâu còn ngồi đây viết những giòng hồi ký này? Thật là may mắn! Lắm lúc tôi tự hỏi chuyện gì sẽ xẩy ra nếu một ngày nào đó tôi lại rớt vào trạng Thái buồn bã, chán nản vô cùng đó? Liệu tôi có còn chủ động được nữa hay không?

Tôi có một anh học trò cũ tuổi mới trên hai mươi mà đã phải đạp xích lô như tôi để nuôi một vợ và hai con nhỏ. Sinh trong  một gia đình làm ăn buôn bán khá giả thời trước, khi cộng sản vào tài sản bị nhà nước tịch thu hết, cả anh lẫn người bố phải đạp xe kiếm sống cho qua ngày. Thật không thể tưởng tượng nổi. Khi xưa thì quần áo bảnh bao, một bước là xe hơi, nhà lầu thì máy lạnh, máy nước nóng, chiều nào cũng cả nhà dắt nhau đi ăn tiệm. Bây giờ  không chiều tối nào hai bố con không dăm ba xị đế, thứ rượu rẻ tiền làm bằng bã mía, uống vào cháy cổ, bỏng họng, phá hủy cả tì phế gan ruột. Họ biết rằng họ đang tự hủy đời họ. Có lần tôi hỏi “em còn trẻ, đời còn dài, sao lại tự phá thân xác như thế?” thì anh trả lời “Em biết uống rượu là có hại, nhưng thầy thấy không, em buồn quá, chán quá. Rượu là lối thoát của đời em.” Thật là một cách trần tình đơn giản và ngây ngô. Đâu còn lý trí trong lời nói đó? Lời nói bộc lộ tâm trạng của con người khi quá đau khổ, đau khổ cùng cực đến độ mất lý trí!



Hai chiếc xích lô chở bọn tôi đi ngược đường Hiền Vương, quẹo ngã sáu sang đường Trần Quốc Toản rồi đi đến Ngã Bẩy. Chúng tôi xuống tại bến xe lam đi xa cảng miền tây và Hai Học móc tiền ra trả. Y lầm lì bảo chúng tôi leo lên chiếc xe lambro máy đang nổ chờ đủ khách để chạy. Trên xe đã có được hai người khách. Lúc ấy đã hơn ba giờ chiều mà trời vẫn còn nóng gay gắt. Chúng tôi nhễ nhại mồ hôi. Hai Học nóng ruột lắm; y leo lên xe, leo xuống xe ba bốn lần, rồi chạy đi mua gói thuốc Samit về ngồi hút mà cũng chẳng thèm mời tôi. Mấy lần y tính gọi xích lô máy đi xa cảng xong lại thôi. Thỉnh thoảng y lại dục tài xế: “sáu người, chạy được rồi, chờ gì nữa, cha nội?” Người tài xế cứ lờ đi và chúng tôi phải chờ thêm hơn nửa tiếng nữa thì xe mới chuyển bánh.

Tôi nhìn con tôi mà thấy thương nó quá! Cháu còn nhỏ chưa biết gì mà đã rất dũng cảm. Cháu hiểu rằng cuộc đi này rất nguy hiểm, nhưng không hề bộc lộ nét sợ sệt nào trên mặt. Tôi biết
cháu có nhiều ý chí và nghị lực vì trong lần đi bị bắt kỳ trước cháu đã phải ở tù gần hai tháng trời. Thời gian ở tù ấy rất cực khổ vì gia đình chúng tôi không biết là chúng tôi đã bị bắt và chúng tôi đã không được tiếp tế lương thực. Ỡ nhà tù cộng sản, ăn ngày chỉ được hai chén cơm nhỏ, vừa ăn hết chén là bụng đã lại đói. Cháu đã phải nhìn những người đã ở tù lâu, được thăm nuôi, có nào kẹo bánh, nào trái cây, nào xôi, nào bánh tét để mà ăn. Thật tội nghiệp thằng bé! Có ở tù cộng sản mới thấu hiểu cái đói, sự thiết yếu của vật chất đối với nhu cầu của cơ thể. Có ở tù cộng sản mới thấm thía sự dằn vặt của cơ thể khi thiếu ăn. Hãy cứ tưởng tượng bộ mặt ngờ nghệch, ánh nhìn thèm thuồng, miệng nuốt nước miếng của đứa bé nhìn kẻ khác ăn miếng đường thẻ để thấy sự chịu đựng ghê gớm đã dày vò nó suốt thời gian ở tù. Nhiều người kể cả ngưòi lớn đã không ngăn đựơc cơn thèm nên phải ăn cắp cục đường hay quả chuối để rồi bị phát giác, bị phê phán và phạt nặng nề. Tôi còn nhớ trong những ngày thiếu thốn đó, con tôi đã rủ chị và em nó đi ra một nơi xa để tránh khỏi phải nhìn những người khác ăn. Khi có người ở tù chung thương hại cho cháu nữa miếng đường thẻ thì cháu lại đi tìm bố để chia cho bố một phần. Tôi nhớ nhiều lúc chính tôi, vì không kiềm chế nổi cơn thèm, cũng đã cắn một miếng nhỏ khi cháu chìa cục đường ra trước mắt. Thật là lạ lùng cái mãnh lực của nhu cầu sinh lý.

Ý chí của con trai tôi đã được thử thách lần đó. Sau này, khi tôi hỏi cháu còn dám đi vượt biên nữa không thì cháu mạnh dạn trả lời “còn” và khi tôi hỏi tiếp là cháu không sợ vào tù hay sao thì câu trả lời của cháu là “không sợ”. Sự can trường của cháu vượt quá sự dự đoán của tôi và cũng vì thế mà tôi quyết định cho cháu cùng đi chuyến này.

Chiếc xe Lam nổ bành bạch, phun khói đen xịt lên trời tạo nên một làn khói dài đằng sau xe. Tôi cảm thấy khoan khoái lạ thường. Nhìn những đường phố Saigon thân yêu biến dần sau xe, tôi cảm thấy ruột hơi thắt lại một tí. Lần này nếu đi thoát thì tôi sẽ không còn bao giờ thấy thành phố thân yêu này của tôi nữa. Gió mát từ phiá trước làm khô mồ hôi và làm cánh áo và tóc của người ngồi bên cạnh bay vào mặt mũi tôi. Tôi cảm thấy một cảm giác sảng khoái, một cảm giác bất thường đối với kẻ ly hương. Tại sao tôi lại không thấy buồn?
Đến bây giờ ngồi viết lại những giòng hồi ký này trong trại tị nạn, dưới ngọn nến, vào một buổi sáng sớm chưa có mặt trời mọc, tôi vẫn không hiểu được tại sao, tại sao tôi đã không buồn? Vô lý thật! Ra đi khỏi thành phố Saigon thân yêu, nơi tôi đã sống hơn hai mươi năm trời, quê hương thứ hai của tôi, nơi vẫn còn giữ những người thương yêu của tôi, mà tôi lại lạnh lùng thờ ơ? Ra đi là rời xa kỷ niệm của những ngày niên thiếu, những ngày lớn lên, trưởng thành, khi đi làm, khi lấy vợ đẻ con, bao nhiêu kỷ niệm vui buồn gắn liền với nơi thân yêu ấy! Saigon đã mang hình ảnh một nửa đời tôi cho đến lúc tôi buộc phải ra đi! Vậy mà tôi lại thờ ơ, lại không luyến tiếc? Tâm trạng của kẻ bỏ trốn ra đi là như thế hay sao? Hay tại tôi là môt kẻ vô tình, tôi cũng không biết nữa? Tôi chỉ biết rằng tôi đã rời Saigon trong sư lạnh nhạt vô cảm, không tiếc thương, không quyến luyến. Tôi đã chẳng vẫy tay chào từ biệt, chẳng sụt sùi, chẳng để một giọt lệ nào rơi xuống má. Phải chăng vì tôi đã coi cuộc ra đi là đương nhiên, là phải có, là phải chấp nhận nên khi nó xẩy đến tôi đã lạnh lùng thờ ơ như thế? Hay vì những ngày chót sống nơi ấy quá đau thương, quá tuyệt vọng, dày vò tâm can tôi?



Chúng tôi đến gần xa cãng thì bổng nhiên Hai Học kêu người tài xế ngừng xe để chúng tôi xuống. Vừa xuống khỏi chiếc xe lam, y liền chạy lại nơi có một chiếc xe đò nhỏ chạy đường Saigon-Mỹ Tho đậu bên đường. Xe trống trơn, không một hành khách. Tôi chưa hiểu chuyện gì thì Hai Học hỏi tay lơ bao giờ chạy. Người lơ xe trả lời “Chạy liền, thầy hai” và thế là bọn tôi nhẩy lên ngồi. Sau mươi phút chờ đợi mà xe chưa chuyển bánh, Hai Học bảo chúng tôi xuống. Chúng tôi lẽo đẽo đi theo y. Hai Học vừa đi tới, vừa thỉnh thoảng ngoái cổ về phiá sau nhìn xem có chiếc xe đò nào chạy đến hay không. Mỗi khi có một chiếc chạy qua, y ngoắc tay, vừa kêu vừa chạy theo, nhưng không xe nào chịu ngừng cả. Cuối cùng chúng tôi phải thuê một chiếc xe lam để đi đến xa cảng miền tây. Đến nơi, Hai Học vẫn không chịu cho chúng tôi lên xe mà lại bắt bọn tôi lội bộ đến tận Bình Điền. Khi tới Bình Điền hàng chục tên dẫn mối chặn chúng tôi để mời mọc lên những chiếc buýt nhỏ chạy đường Bình Điền-Mỹ Tho. Thế là cả bọn tôi leo lên.
Cứ độ năm phút xe lại ngừng để đón thêm khách, xe đã đầy nhóc rồi mà tên lơ xe vẫn rước thêm. Chúng tôi ngồi sát vào nhau như những con cá trong hộp, không khí trong xe ngột ngạt khó thở. Hàng chục khách phải ngồi trên những chiếc ghế đẩu nhỏ mà dân lơ gọi là ghế súp, được xếp dọc lối đi trên xe và cả lối lên xuống. Mỗi khi xe quẹo, họ ngả nghiêng, cười la hét um trời. Mặc dù đã là chiều tối, trời vẫn còn nóng ghê gớm và trên xe, hành khách ồn ào nói chuyện hay cãi nhau với lơ xe vì tiền bạc. Những tên dẫn mối bắt chẹt khách một cách trắng trợn. Giá xe đi tới Mỹ Tho có mười đồng mà khách phải trả cho dẫn mối năm đồng. Để khỏi phải trả số tiền phụ trội này nhiều người giả đò xuống xe, đi  bộ một quãng, để rồi lại được lơ rước sau đó.
Xe chạy vừa chậm vừa hay ngừng đón khách làm cho Hai Học nóng ruột.
Y xuống xe và chúng tôi lót tót xuống theo. Chúng tôi lại lếch thếch đi bộ một quãng thì Hai Học ngoắc tay đón một chiếc xe chở hàng. Y leo lên bực chỗ cửa xe, thò đầu vào nói dăm ba câu với người tài xế, rồi y mở cửa xe bảo Xinh và con tôi leo lên. Sau đó y cũng chui vào ca bin xe. Y bảo tôi leo lên chiếc thang sắt nhỏ nằm bên hông thùng xe đằng sau để chui vào cửa sổ phía trước. Trong thùng lúc đó chẳng có ai. Tôi chưa chui hẳn vào thì xe đã chuyển bánh làm tôi suýt té nhào. Đi đường, gió thổi lồng lộng vào xe làm cho tôi cảm thấy hơi lành lạnh.
Tôi vừa ló đầu ra nhìn quang cảnh xung quanh thì tên lơ xe đứng bám cửa bên phía tài xế hét lớn: “Chui đầu dô! đừng ngó ra cửa, công an nó thấy!” làm cho tôi bổng nhiên ý thức lại rằng cuộc đi này đầy hiểm nguy. Theo lệnh của Hai Học, tôi ra đi không mang theo giấy tờ căn cước, nếu bị bắt không biết khai làm sao. Bổng nhiên tôi cảm thấy hơi sờ sợ, hơi lo lo. Tôi sờ vào túi áo và thấy chỉ vỏn vẹn có chiếc kính cận mầu nâu. Tự nhiêm tôi lôi nó ra cầm trên tay.

Nhìn chiếc kính cận bất thường, vì kính cận bình thường phải là kính trắng, tôi nhớ lại câu chuyện của nó. Nó biểu tượng cho sự thiếu thốn trong nền kinh tế xã hôi chủ nghiã. Ở Saigon, sau sáu năm được bọn Việt Cộng giải phóng, khó có thể mua được kính theo giá của nhà nước. Muốn mua theo giá đó thì phải đến tiệm kính quốc doanh với giấy giới thiệu là công nhân viên, rồi phải đợi một tháng.

Để mua được kính theo giá chính thức, tôi đã phải nhờ người em làm công nhân cho một xí nghiệp dược phẩm ở Thủ Đức xin giấy giới thiệu, rồi dùng giấy mang tên nó mà đi khám mắt tại bệnh viện Saint Paul cũ và xin ghi lệnh đi mua kính. Với giấy giới thiệu và ghi lệnh, tôi đã đến cửa hàng kính quốc doanh ở đường Duy Tân, con đường của đại học luật khoa, con đường của tôi, của những kỷ niệm đẹp nhất một thời.
Cô bán hàng người tầu lai nói với tôi “Không có số của chú, Xin chú đi cửa hàng khác”. Cô hàng ăn bận rất đẹp, mặt thoa phấn, môi thoa son, ăn nói lịch sự. Chỉ có một vấn đề là cửa hàng không có kính để bán cho tôi. Tôi biết có đi cửa hàng khác thì cũng thế thôi. Tôi đã hiểu rõ những qui luật xã hội chủ nghiã, những lề lối làm ăn trong xã hội mới. Muốn được mua giá nhà nước, ngoài giấy tờ qui định, còn phải có yếu tố quen biết, hoặc phải nói ngọt, phải năn nỉ, và phải biết kiên tâm chờ đợi. Vì vậy, khi nghe cô bán hàng xinh đẹp nói thế, tôi không ra về liền. Tôi nán ở lại một lúc, và khi các khách hàng khác đã ra về, tôi liền sán lại. Tôi làm bộ mặt thảm não nói nhỏ:
-     Tôi là công nhân, tôi bị cận thị nặng, nếu không có kính tôi không thấy đường, khổ lắm!
Lương tôi chỉ đủ sống, không thể mua kính bên ngoài được. Xin cô giúp cho! Cô hàng nhìn tôi có vẻ nghi ngờ:
-     Chú mà là công nhân hả?
-     Trước tôi làm thầy giáo. Cách Mạng về, tôi làm công nhân cho xí nghiệp dược phẩm. Như thông cảm với tôi, một người đồng tình đồng cảnh, cô nói:
-     Trước cháu đang học tú tài. Sau giải phóng cháu phải nghỉ học đi làm. Thôi, sáng thứ hai chú trở lại, cháu sẽ bán cho chú. Thứ hai có hàng mới về.
Sáng thứ hai tôi trở lại. Cô hàng tươi cười đón tiếp tôi. Cô chìa ra trước mắt tôi một miếng bià trên đó có in chín màu khác nhau từ đậm đến nhạt:
-     Chú chọn màu nào, từ một đến chín?
Tôi bỡ ngỡ. Tôi mua kính trắng chứ có mua kính dâm đâu mà chọn màu!
-     Xin cô bán cho tôi kính thuốc, kính trắng…
-     Cháu thưa thật với chú, kính trắng hết từ lâu rồi. Chú mua được kính là hên lắm, đừng đòi kính trắng!

Mười lăm đồng một cặp kính. Rẻ thật ! Chỉ tiếc rằng nó không là kính trắng! Ai lại đeo kính thuốc màu nâu bao giờ? Nhưng ra ngoài mua thì phải trả giá đắt gấp mười lần, Thôi thì đành đeo kính màu vậy. Cận thị phải đeo kính mầu! Đó là một trong trăm cái vô lý tiêu biểu cho cái nền kinh tế sa sút của miền Nam sau ngày cộng sản tiến chiếm. Súng đạn phát cho những thanh niên “được” động viên đi đánh ở Kămpuchia thì nhiều, nhưng kính trắng cho người học sinh cận thị thì không có.
Tôi nhớ trước bẩy mươi lăm, mua một cặp kính Zeiss hay Stigmal cũng chỉ tốn có bẩy đồng, ba ngàn năm trăm tiền cũ, mà lại có liền. Chỉ hai giờ sau là kính đã xong, người mua lại được trọng vọng. Nay giải phóng rồi, người dân làm chủ, không còn tư bản bóc lột, thì lại phải làm cho nhà nước mới có giấy giới thiệu, phải đến bệnh viện khám mắt vì sợ mua kính đem bán chợ đen, và phải “tranh thủ” được tình cảm của cô bán kính ở cửa hàng quốc doanh thì mới mua được cặp kính, gọng thì xấu, tròng thì không tốt, với một giá gấp đôi giá trước ngày giải phóng. Thế mà lý thuyết Mác xít lại quả quyết rằng Xã Hội Chủ Nghiã là một hình thái kinh tế xã hội cao hơn Tư Bản Chủ Nghiã, với một nền sản xuất tinh vi hơn, một nền kỹ thuật phát triển hơn, một chế độ phân phối hoàn hảo hơn. Thật là một lý luận ngu xuẩn mà chỉ bọn cộng sản vô học thức mới tin mà thôi.

Bổng tiếng la hét của người tài xế phụ làm tôi tỉnh mộng. Chẳng hiểu vì sao, từ khi tôi dời nhà tôi, từ khi tôi giã từ những người thân, tôi như chìm trong một giấc mộng mơ, trong sự u mê tràn ngập tâm hồn, chẳng nghĩ gì về thực tế. Tôi đã mất hết cả ý thức, mất hết cả lý trí, và đã hành động đơn thuần như một cái máy. Tôi đã chỉ sống với tiềm thức, với bản năng, không suy tư, không lý luận. Những lời nói của anh lơ đã lôi tôi về với thực tại đầy hiểm nguy. Lý trí trở về với tôi cùng cảm giác lo sợ và ưu tư.
Thế rồi năm phút sau đó, một nổi lo khác lại xâm nhập đầu óc tôi. Hai Học và Xinh có còn trên xe hay không? Những lúc xe ngừng y có thể kéo con tôi và Xinh đi mà tôi chẳng hay. Bao nhiêu người đi vượt biên đường bộ đã từng bị bỏ rơi nửa đường, bao nhiêu người trốn đi đã bị lường gạt mà chẳng làm đựơc gì. Tim tôi bổng đập nhanh, tôi quên cả hiểm nguy, chui đầu ra khỏi lỗ cửa, ngoái cổ, cố nhìn qua cái kính chiếu hậu ở mũi xe xem Hai Học còn ngồi trong ca bin hay không. Gió ào ào thổi vào mặt vào mũi tôi mà tôi chẳng thấy được gì. “Làm gì vậy, cha nội? Muốn chết hay sao đây?” Tôi nghe anh lơ hét vội thụt đầu trở vào, lòng tôi hoang mang. Tôi thấy tôi đã dại dột không giữ cháu bé với mình.

Đang suy nghĩ Miên man thì bổng nhiên tôi thấy xe dừng lại một chập lâu rồi cháu bé hiện ra nơi lỗ cửa. Nó vừa chui vào thùng xe thì xe lại lăn bánh. Sự hiện diện của đứa con bên tôi làm tôi ấm lòng nhưng đồng thời cũng làm tôi nghi thêm Hai Học. Bây giờ mà cháu bé đã ở bên tôi thì y càng dễ trốn đi. Hắn mà có trốn thì tôi cũng chẳng làm gì được. Đi báo công an ư? Đưa y đi tù thì chúng tôi cũng sẽ đi tù. Luật làm ăn với tổ chức vượt biên là luật giang hồ, hai bên có tin tưởng nhau thì mới cộng tác. Nhưng làm sao tin nhau được hoàn toàn? Đủ tin để mà chịu tham gia, để mà chịu trồng tiền, nhưng mà sau đó cứ ngay ngáy sợ bị gạt, cứ luôn luôn canh chừng. Mà canh chừng cái gì cơ chứ? Bây giờ mà Hai Học có ngang nghiên bỏ chúng tôi giữa đường thì tôi cũng phải chịu. Tham gia làm chuyện bất chính là thế! Cộng sản không bảo vệ kẻ phản nước bỏ trốn ra đi. Nhiều người đi vượt biên sạt nghiệp vì bị bọn gian manh lừa gạt liên tiếp mà ước mơ đi tìm tự do vẫn thôi thúc trong lòng. Ra đi tìm cái chết là thế! Đau đớn hơn nửa là nhiều tổ chức đưa người vượt biên cố tình ăn thông với công an điạ phương để cướp của, những người ra đi vừa bị bọn tổ chức lừa vừa bị bọn công an cướp vàng bạc mang theo, vừa bị đi tù. Không có luật lệ nào bảo vệ kẻ đi tìm tự do.

Vả lại, dưới chế độ xã hội chủ nghiã làm gì có luật lệ bảo vệ người dân thấp cổ bé miệng? Hay nói cho đúng ra, xã hội chủ nghiã chẳng có luật pháp gì cả. Xã hội chủ nghiã cũng chẳng cần có luật pháp vì trong chế độ cộng sản chỉ có tiếng nói của kẻ mạnh, của nhà cầm quyền, của
cán bộ chính trị và công an chó săn. Chính quyền cộng sản thường nói đến “pháp chế xã hội chủ nghiã”. Thế pháp chế xã hội chủ nghiã nó là cái gì? Nó là cái dụng cụ để bảo vệ chế độ cộng sản. Luật lệ trong pháp chế đó mang tính cách biện chứng, tức là nó phải luôn luôn thay đổi để đáp ứng nhu cầu thay đổi của nhà cầm quyền, hay nói cho rõ hơn, nhu cầu kinh tế của nhà cầm quyền. Vì trong chế độ cộng sản, kinh tế, tức quyền lợi, chi phối tất cả: chính trị, luật pháp, xã hội, giáo dục. Theo lý thuyết mác xít lê nin nít mà tôi đã phải học tập gần năm trời tại Đại Học Luật Khoa Saigon, thì pháp chế xã hội chủ nghĩa có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu vật chất của xã hội xã hội chủ nghiã, tức là đáp ứng nhu cầu sản xuất xã hội chủ nghĩa. Thế là cái quái gì? Nghe thì khó hiểu nhưng thực ra thì rất đơn giản. Bọn mác xít giải thích như sau: vì nhu cầu sản xuất, có khi cần lao động, có khi không cần lao động. Khi cần thì giữ, không cần thì bỏ. Trí thức là lao động kỹ thuật. Lúc không nghĩ đến phát triển kỹ thuật thì không cần trí thức, trí thức bỏ nước trốn đi bị lên án thật nặng, bị coi là phản quốc, bị cho đi tù mọt xương, tài sản bị tịch biên.  Lúc cần phát triển kỹ thuật thì trí thức bỏ nước trốn đi được khoan hồng, được coi là đã lỡ dại nghe theo lời đế quốc tuyên truyền, lên án sơ sơ, đi tù vài ba tháng rồi đươc thả về để tiếp tục phục vụ xã hội chủ nghiã.

Vào những năm bẩy tám bẩy chín, khi nhà nước cộng sản cần vàng để dùng làm ngoại tệ cứu vãn nền kinh tế suy sụp, đắp vá những lỗ hổng của một nền sản xuất què cụt thì sự ra đi của trí thức theo những kẻ thù trong là những người hoa trong đợt “ra đi bán chính thức” laị được coi là lưỡng lợi. Một mặt, nhà nước thu được vàng mà trí thức và gia đình phải ký quỹ, và cán bộ ăn thêm được của đút, vì muốn đi bán chính thức phải chạy chọt mới được đăng ký. Vụ “xuất khẩu người”, như các quan sát viên ngoại quốc đã nói, mang lại cho đảng và nhà nước, tức là những tên cán bộ cộng sản cao cấp, bao nhiêu mối lợi, vàng đút lót để được đi, nhà cửa xe đồ đạc bỏ lại. Để hợp thức hóa sự chiếm đoạt tài sản này, bọn cầm quyền buộc những kẽ ra đi phải ký giấy nhượng chủ quyền lại cho bọn chúng. Thật là sự ăn cướp trắng trợn và công khai. Trí thức được khuyến khích ra đi là vì thế.
Mặt khác, đảng cộng sản coi trí thức như là những kẻ phản cách mạng thuộc thành phần tiểu tư sản, đầu óc đã bị nhiểm ý thức tư bản chủ nghiã, bất khả cải tạo. Tống xuất họ đi để công cuộc xây dựng xã hội chủ nghiã không bị cản trở, không bị chi phối. Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ xuôi xẽ tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghiã, tức là một bước cao hơn. Đó là lô dích (logique) khôi hài của thuyết mác xít và biện chứng pháp duy vật.

Mục đích chính trị của sự cho đi bán chính thức là tống xuất những người Hoa ra khỏi Việt Nam vì nhà nước ta sợ bọn này làm tay sai cho Trung Quốc, nước đàn anh vĩ đại đã từng giúp đảng và nhân dân ta chống Mỹ cứu quốc, nước trước đây đã từng có mối liên hệ “môi hở răng lạnh” với ta, mà nay bổng nhiên trở thành kẻ thù số một.
Lợi dụng sự cho phép người Hoa ra đi, cán bộ trung ương và địa phương đã cho phép cả những nhà giàu và những trí thức Việt đăng ký đi, miển là họ chịu đóng ít ra là mười hai cây một đầu người. Trong cái miền nam mới được giải phóng đang được xã hội chủ nghĩa hóa, người trí thức miền nam không có chỗ đứng nên họ phải ra đi. Vả lại trí thức, vốn có khả năng suy tư và lý luận, làm sao có thể chấp nhận một chủ nghiã vô lý và phản thực tiễn như chủ
nghĩa cộng sản được? Làm sao mà họ lại chịu để những con lừa lãnh đạo loài sư tử? Cách
mạng vô sản đã trao quyền lãnh đạo cho giai cấp công nhân, thành thử tầng lớp trí thức bổng nhiên bị bọn vô học cưỡi lên đầu lên cổ.

Để ngụy biện, chủ nghĩa cộng sản đẻ ra cái gọi là lớp trí thức xã hôi chủ nghĩa, tức là trí thức yêu nước, thứ trí thức đã đầu hàng giai cấp vô sản, đã chấp nhận sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Đó là thứ trí thức sinh ra, lớn lên và được đào tạo trong môi trường xã hội chủ nghĩa. Còn những trí thức miền nam, sinh ra và lớn lên trong môi trường tư bản chủ nghĩa, dù có được cải tạo, cũng không được đảng và nhà nước tin cậy, không đựơc trao phó cho một trọng trách nào, thì còn ở lại làm gì?
Trong giai đoạn chuyển tiếp trong khi nền sản xuất của miền nam còn cần đến kỹ thuật tư bản, trí thức miền nam còn được vuốt ve, được tạm thời sử dụng vì bọn cộng sản thiếu kỹ thuật gia, thiếu những người có khả năng làm việc. Họ thừa hiểu chính sách vắt chanh bỏ vỏ của bọn
cộng sản, thừa hiêủ rằng trước sau gì thì họ cũng sẽ bị đào thải, nên họ sớm muộn gì thì cũng phải ra đi.

Mặt khác, trí thức miền nam là chướng ngại vật cho sư tiến lên xã hội chủ nghĩa vì nhờ có óc suy luận họ biết rõ đâu là đúng đâu là sai, đâu là chân lý, đâu là giả dối lừa bịp. Trong lúc học tập cải tạo, họ có thể đóng kịch trả bài đúng cung cách, họ có thể tỏ ra là họ rất thấm nhuần tư tưởng mác lê nin, nhưng đó chỉ là bề ngoài. Trong đầu họ vẫn là những suy tư lối tư sản, phản cách mạng.  Làm sao mà họ có thể tin được lối lý luận biện chứng quái gở của chủ nghĩa mác lê nin cho được?  Nói cho ngay, đầu óc tiểu tư sản, bảo thủ, và sợ hiểm nguy của trí thức miền nam không thể biến họ trở thành những kẻ chống đối tích cực chế độ được, nhưng họ sẽ chống đối tiêu cực, sẽ ì ra, sẽ làm trì chậm bước tiến lên xã hội chủ nghiã. Do đó cộng sản không thấy cần phải giữ trí thức miền nam và muốn tống khứ họ đi cho rồi.



Trở lại với cái thực tế lúc đó, với cái cảm giác sợ sệt của tôi, sau này tôi mới thấy nó thật vô cớ. Hai Học chẳng thể có ý định lừa tôi được, vì y không những đang làm ăn suôi sẻ và muốn tiếp tục kiếm tiền bằng cái cách tương đối dễ dàng này, mà lại còn muốn gây thêm uy tín, muốn khuyếch trương cách làm ăn này để làm giầu. Thế mà lúc đó, tôi cứ lo cứ sợ. Mỗi lần xe dừng lại là tôi lại hồi hộp, tim tôi lại đập thình thịch và tôi bảo cháu Định là phải cùng với tôi canh chừng, nhìn xem Hai Học có trốn đi không mặc dù tôi thừa biết rằng nếu y có bỏ đi ngay trước mắt tôi thì tôi cũng chẳng làm gì được.
Xe chạy được nửa tiếng thì lại ngừng. Cháu bé, đúng như lời tôi dặn, liền thò đầu ra nhìn. “Gì đấy con?” tôi liền hỏi. Có tiếng cửa ca bin mở, tiếng đối thoại giữa anh lơ với ai đó có giọng đàn bà, rồi bổng cửa bên hông thùng xe bật mở. Chúng tôi nhịn thở, vội vã nằm dẹp xuống sàn xe trong bóng tối, tim thắt lại, chờ đợi bất trắc xẩy ra. Năm sáu bao phân hóa học có mùi hôi nồng nặc được thẩy vào, rồi kế đó có hai bóng người nhâỷ lên. Tôi cảm thay bớt sợ. Cánh cửa đóng lại cái xầm, có tiếng cửa ca bin xập đóng lại, rồi chiếc xe lại chuyển bánh.
Nghe hai giọng nói, một đàn ông một đàn bà,  tôi đoán chừng đây là một cặp vợ chồng ở Cai Lậy đi buôn phân hóa học. Phân hóa học là món hàng do nhà nước quản lý, có nghĩa là dân không được buôn bán. Nếu bị bắt, hàng sẻ bị tịch thu và người sẽ bị giữ và bị phạt nặng. Thế nhưng trên thực tế, chính những cán bộ nông nghiệp đã tuôn phân ra từ các kho nhà nước để bán chợ đen cho dân. Nhà nước không có đủ phân để cung cấp cho nông dân, nên muốn canh tác thêm trên những mảnh vườn riêng, họ phải mua phân với giá chợ đen trên thị trường tự do.

Tôi còn nhớ những ngày ở tù Tiền Giang, tôi cùng nhiều thanh niên khác phải đi theo những xà lan chở phân để khuân vác và đã bị liên lụy trong một vụ “ăn phân” do cán bộ tổ chức. Cán bộ có nhiệm vụ đi theo xà lan để bảo vệ phân, nhưng họ lại tổ chức ăn cắp phân bằng cách ăn thông với chủ xà lan, tâủ tán đi hàng chục tấn phân của nhà nước. Họ bắt chúng tôi phá rách những bao phân rồi sang phân vào những túi nhỏ để dễ bán, đồng thời giữ những bao không làm bằng cho sự hao hụt lúc chuyên chở dọc đường. Tất nhiên là có sự ăn thông của nhưng cán bộ địa phương đứng ra nhận phân. Đó là cả một hệ thống tham nhũng, trộm cắp tài sản của nhà nước.

Và như thế, ngành nào cơ sở nào cũng vậy, cũng tham nhũng, cũng ăn cắp tài sản chung của nhân dân. Không ăn cắp thì làm sao mà sống qua ngày được bằng cái lương chết đói mà nhà nước ban cho? Vả lại, của chung, không ăn cắp là dại. Cơ hội kiếm tiền đến nơi, mà không bắy lấy thì có điên hay không? Cha chung chết, không ai khóc. Của chung của nhân dân, mạnh ai lấy được thì cứ lấy, tội vạ gì mà không? Tài sản nhà nước là tài sản của nhân dân mà lị! Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý. Nhà nước quản lý thì cán bộ nhà nước tha hồ mà lợi dụng, tha hồ mà ăn cắp! Của chung là thế đó, cộng sản là thế đó!

Chiếc xe vận tải tiếp tục lăn bánh. Gió lồng lộng thổi vào thùng xe. Người vợ nằm dài trên miếng ván nói “đi còn xa, phải nằm xuống cho thoải mái” còn người chồng thì tính lời tính lỗ với vợ. Cha con tôi thì ngồi trên chiếc bánh xe sơ cua nằm trên sàn xe. Mỗi lần xe gặp ổ gà, chiếc
bánh xe nhẩy lên đưa chúng tôi nhổm bổng lên rồi lại rớt xuống phình phình. Hai người kia nhìn chúng tôi mà chẳng nói năng câu gì.
Tôi nhìn cháu bé mà thấy thương nó vô ngần. Cháu còn nhỏ mà đã phải  xa mẹ, xa chị, xa em. Hơn nữa cuộc chạy trốn này đầy hiểm nguy. Mặc dù cháu còn nhỏ, nếu có bị bắt thì cũng chỉ đi tù ít lâu thôi, nhưng lỡ gặp kmer đỏ, hay lỡ dẫm phải mìn, hay lỡ cháu ốm đau bất tử, hay đi lạc? Đầu tôi cứ luẩn quẩn những ý nghĩ rùng rợn như thế. Thực ra tôi chưa biết thứ nguy hiểm nào chờ đón chúng tôi ở mỗi chặng đường. Chuyện gì sẽ xẩy đến cho chúng tôi ở mỗi khúc quanh, làm sao tôi có thể đoán trước cho được?

Xe vẫn bon bon chạy trên lộ nhựa. Con đường đi miền tây vẫn còn tương đối tốt mặc dù không còn được tu bổ như xưa kia. Nhưng vì là xe chở hàng mà lại không có hàng để chở, ngoại trừ dăm bao phân bón, nên xe xóc vô cùng. Hai cha con tôi bị tung lên tung xuống cùng một lúc với chiếc vỏ xe. Cháu bé dường như cũng đang có điều gì nghĩ ngợi nên trông cháu có vẻ đăm chiêu. Tôi hỏi cháu có chuyện gì không thì cháu trả lời không rồi sau một lúc yên lặng cháu nói khẽ, vừa đủ cho tôi nghe được “ Bố đưa vàng cho ông Hai rồi hả bố?” Thì ra cháu cũng lo mất tiền như tôi. Thật tội nghiệp! mới mười hai tuổi đầu mà đã phải lo nghĩ như người lớn.
Cháu tuy bé nhưng đã hiêủ rằng lần đi trước bất thành không những đã đưa cả gia đình nó vào tù, mà còn làm tiêu tán đi tất cả số tiền dành dụm mà bố mẹ nó toan dùng để tìm cách trốn khỏi Việt Nam đi tìm tự do. Lúc ở tù về, thấy không trở lại căn nhà cũ của gia đình, nó hỏi tại sao và khi mẹ nó trả lời rằng căn nhà ấy đã bị chính quyền địa phương lấy mất rồi, thì nó ruơm rướm nước mắt.
Nhà bị tịch thu, hộ khâủ và giấy tờ căn cước bị tịch thu, chúng tôi không những đã trở thành vô gia cư mà còn bị tước mất quyền công dân. Chúng tôi đã trở thành những kẻ vô tổ quốc, mặc dù sống trên quê hương chúng tôi. Chuyến ra đi đó đã gây ấn tượng rất mạnh trong đầu óc non nớt của con tôi. Cháu đã hiểu rằng chúng tôi đâu còn tiền để đánh một canh bạc lớn như hồi đó nữa? Lần này dùng tiền đi mượn để đánh một ván bài gỡ gạc, nếu vô phúc mà lại mất nữa thì coi như là không còn một hy vọng nào. Nhiều lần cháu đã hỏi tôi “ông Hai có lừa mình được không hả bố?” và tôi đã phải trấn an cháu “con đừng lo, có bố để bố lo!”  Cháu hiểu rằng nó đã được ưu đãi khi được bố mẹ cho đi khi mà chị và em nó phải ở lại. Cháu đi phải đóng tiền nên cháu cứ áy náy, sợ bị gạt như lần trước. Thực ra cháu còn quá nhỏ để hiểu giá trị của cây vàng nhưng nó biết rằng bố mẹ cháu không dư dả, không giầu có gì, nên những cây vàng biểu tượng cho những số tiền rất lớn.

Thế rồi xe lại dừng lại, nhưng lần này khá lâu. Có tiếng cánh cửa ca bin mở nhanh rồi đóng xầm lại, tiếng người rủa, tiếng càu nhàu. Tôi chưa hiêủ chuyện gì mà cũng chẳng dám ló đầu ra xem vì sợ xe đang bị công an xét. Sau đó, cánh cửa thùng xe bật mở tung làm cho tôi càng hồi hộp lo sợ. Tiếng anh lơ xe hét to làm chúng tôi giật nâỷ mình “Tất cả xuống! Xe hư! Kiếm xe khác mà đi!”. Còn ít nhất vài tiếng nữa xe mới tới Cai Lậy. Hai vợ chồng người đi buôn nhẩy xuống rồi những bao phân được kéo ra. Chúng tôi lục đục xuống theo. Hai Học, Xinh và hai bố con tôi đứng bên vệ đường. Chúng tôi mới đi được cách Phú Lâm khoảng ba chục cây số, con đường đến Châu Đốc còn dài, còn nhiều cam go. Hai Học lăng xăng chạy tới chạy lui như gà mắc đẻ, xe nào chạy tới cũng ngoắc. Có hai xe đò đậu lại nhưng xe thứ nhất chỉ còn một chỗ , xe thứ hai chỉ rước hai vợ chồng người buôn phân. Những bao phân được nhanh chóng chuyền lên mui rồi xe vọt đi. Một xe đò khác đến nhưng xe chỉ chạy tới Mỷ Tho nên Hai Học không chịu lên. Chúng lại phải chờ một khoảng lâu. Lúc đó đã hơn bốn giờ chiều, không khéo chúng tôi sẽ phải ngũ lại dọc đường tại Bắc Mỹ Thuận, Sađec, hay Long Xuyên.
Một chiếc xe be, chở cả chục người trên những thân cây kéo đằng sau, chồm đến. Hai Học giơ tay ngoắc lại. Xe vừa ngừng y nhẩy lên, mở cửa ca bin chui vào, rồi tới Xinh. Hai bố con tôi tính chui vào nhưng tài xế đuổi chúng tôi xuống vì không đủ chỗ cho bốn người. Hai Học bực tức chửi rủa om sòm. Y tỏ vẻ sốt ruột lắm vì sau năm giờ không còn nhiều xe đò chạy, chúng tôi có thể phải trở về Saigon nếu không kiếm đươc xe đi Bắc Mỹ Thuận. Và như thế tôi sẽ không đi nữa vì qua hôm sau không còn là ngày tốt.
Nhưng tôi không hiêủ tại sao lúc đó linh tính vẫn bảo tôi rằng chuyến này tôi sẽ ra đi được, mặc dù đã gặp bao nhiêu trắc trở, đổi xe bao nhiêu lần, trục trặc đủ chuyện. Không lúc nào trong
đầu tôi lại nghĩ sẽ thất bại. Thâm tâm tôi lúc nào cũng cảm thấy rằng mọi chuyện rồi sẽ êm đẹp, chúng tôi sẽ đạt được cái đích mong muốn là đi đến biên giới Thái. Tôi không hiểu cái gì thúc đẩy tôi nghĩ như thế? Lòng tin mù quáng, sự tự tin quá mức, lòng chủ quan, hay là một mãnh lực siêu hình nào đó?
Sau cùng, môt chiếc xe chở khách chạy tới. Tôi mừng rỡ dơ tay ngoắc lia lịa. Xe dừng lại. Đó là một chiếc xe đò cũ kỹ, trống trơn, không còn ghế chở hành khách. Trên xe có khoảng chục người ngồi sệt dưới sàn. Có lẽ đây là một chiếc xe đang được tân trang. Chúng tôi sung sướng leo lên ngồi phía trước xe. Chúng tôi rất may mắn vì xe chạy đến Bắc Mỹ Thuận, chúng tôi sẽ không phải sang xe nữa. Trên đường đi, xe còn rước thêm năm bẩy khách, nhưng chúng tôi đi khá nhanh vì không bị xét hỏi khi qua những trạm gác. Có lẽ về chiều không còn nhiều xe đò, các lính gác trạm đã bỏ về nhà.

Chúng tôi tới Bắc Mỹ Thuận khoảng hơn sáu giờ. Xe đậu một quãng xa nên chúng tôi phải lếch thếch lội bộ đến bến phà. Giờ đó, đò chỉ còn chạy thưa thớt, và trong lúc chờ đò sang Hai Học đề nghị ăn cơm chiều tại đó. Hai bên con đường xuống bến phà, cả dẫy quán ăn và quán bán trái cây đang chuẩn bị dọn về. Khách đò cũng không còn đông nên chỉ còn dăm ba quán còn mở cửa đón khách.
Ngồi trong quán ăn chờ cơm, tôi mơ tưởng lại những lần qua đò mười mấy năm trước khi tôi làm giáo sư ở Sađéc. Hồi đó, hàng tuần tôi vẫn thường ngồi ăn trong những quán cơm ở đây, hoặc mua ổi xá lị hay những xiên chim nướng đem về Saigon để làm quà cho gia đình. Đối với tất cả những giáo sư đi dạy ở miền tây, bắc Mỹ Thuận không những là một nơi quen thuộc mà còn là nơi chứa chấp bao nhiêu kỷ niệm, êm đềm có, khắc khoải có.

Tôi nhớ lại những năm tháng đi dạy ở trường Trung Học Sađéc vào giữa những năm sáu mươi, sau khi tôi mới tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Saigon. Tốt nghiệp hạng năm hạng sáu gì đó tôi không còn nhớ rõ, tôi bị đẩy đi nơi khỉ ho cò gáy gần Cao Lãnh là ổ chứa Việt cộng thời đó. Tôi đã phải chọn Sađéc là vì không còn chỗ nào hơn, những nơi tốt như Saigon, Tân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long đã bị các bạn đồng khóa chọn mất rồi. Những nơi khác như Long Xuyên, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trang, Bạc Liêu, Châu Đốc, Rạch Gía, Kiên Giang, Cà Mau, Hà Tiên, Phú Quốc đều quá xa, khó đi đi về về hàng tuần. Vì đang có người yêu sắp lấy làm vợ, tôi không thể không về Saigon mỗi cuối tuần. Vả lại cuộc sống ở tỉnh lẻ không mấy gì vui, tôi cứ nhớ Saigon hoa lệ, nơi tôi có thể đi dạo phố, đi ăn nhậu, đi xem hát, nói chung là đi du hí sau năm ngày nhoài người ra đánh vật với bọn nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò.

Ở cái tuổi hai mươi ba, hai mươi bốn, còn quá trẻ để thành một ông thầy nghiêm nghị, tôi đã say mê đi nhậu với những thanh niên quê, tuổi đã hai mươi mà vẫn học trung học, tôi đã mơ mộng nghĩ đến những nữ sinh tuổi mười bẩy mười tám, phơi phới xinh như các nàng tiên trong những áo dài trắng thướt tha. Thầy trò gặp nhau hàng ngày, lắm quyến luyến, lắm mộng mơ làm tôi cứ tiếc sao tôi đã sớm có người yêu để tôi không còn đươc tự do bay bướm. Những kỷ niệm vui buồn về Sađéc, tôi còn nhớ mãi, có lẽ bởi vì lúc đó tôi còn đang đầy nhựa sống, đầy ước vọng, tôi đang thấy cuộc đời tươi đẹp, đáng sống tận tình, không như bây giờ lúc tôi ngồi viết hồi ký. Gần hai mươi năm sau, đời đã quất vào lưng, vào mặt tôi, hằn lên những vết thương đau, những di tích của miệt mài đấu tranh, của cay đắng bất hạnh, của thất vọng ê chề.

Những kỷ niệm vui về Sađéc, tôi nhớ những buổi sáng trước khi vô lớp, tôi và Khôi, người bạn đồng nghiệp cùng dạy Pháp văn, chúng tôi đi một vòng quanh trường, giả là đi canh học sinh, kỳ thật là đi tìm các cô giáo trẻ trong những chiếc áo dài mầu tím, mầu vàng chật ních phô bầy những bộ ngực tràn đầy nhựa sống, để rồi mỉm cười thoả mãn. Tôi còn nhớ “chị” Nhâm, người đồng nghiệp nhỏ nhắn, xinh như mộng, mà chúng tôi cứ đi tìm chỉ để ngắm cái tam giác thịt hồng hào bên hông mà chị thường phơi bâỳ ra giữa cạp quần đen và hai vạt áo dài có khuy cài hơi quá cao. Tôi còn nhớ cô Oanh vào những buổi chiều chập tối chủ nhật, những lần chúng tôi bị kẹt lại hàng giờ chờ đò tại Bắc Mỹ Thuận. Những chiều xâm xẩm tối đó có đom đóm bay đầy trời, Oanh đi bắt đom đóm về bỏ vào giữa hai bàn tay chụm lại của tôi, để cùng tôi ngồi chụm
đầu nhìn ánh sáng lập lòe ở những khe giữa ngón tay và cười vui thú. Những kỷ niệm đó dễ
thương làm sao, làm tôi ước ao sống lại những giây phút thần tiên đó.

Những kỷ niệm buồn về Sađéc, tôi nhớ cái buổi sáng thứ hai đó khi đến trường, thấy học sinh lao nhao trước cổng mà không chịu vào sân, tôi vừa ngạc nhiên vừa lo lắng chưa biết chuyện gì đã xẩy ra. Tôi hỏi những học sinh của tôi thì được trả lời “Đêm qua Việt cộng về, chúng giết hai học sinh trường mình!” nghe mà rụng rời cả tay chân. Vào đến trường tôi thấy các giáo sư tụ tập trong văn phòng. Vừa thấy tôi, anh Kim giám học trường là người tôi ở chung nhà, lại gần tôi thì thầm đủ nghe “ Mặt Trận Giải Phóng đêm qua về treo cờ và phơi bầy hai xác chết trước cửa trường, mục đích là để cảnh cáo những học sinh không chịu đi theo mặt trận, đồng thời tuyên truyền bằng cách chứng tỏ sự có mặt của họ ở địa phương”. Trường ở vùng ngoại thành, nên chính quyền tỉnh mới hay biết đây, chưa cho người đến điều tra, do đó chúng tôi phải chờ lệnh cấp trên xem phải hành sử ra sao.
Nhìn những khuôn mặt đầy lo âu của mọi người, tôi đã tiên đoán được cái số phận khốn nạn của Việt Nam Cộng Hòa, nửa phần đất nước còn tí tự do dân chủ. Những sáng chủ nhật trở xuống Sađéc, khi qua vùng Cai Lậy, tôi đã phải chứng kiến những cảnh việt cộng đắp ụ chặn xe đò hoặc phơi bầy dăm ba xác chết bị mổ bụng phanh thây, với những hàng chữ nguệch ngoạc “kẽ thù nhân dân” viết trên miếng giấy gắn trên ngực những kẻ bị ám sát, để đe dọa và tuyên truyền. Những khi đó tôi đã tiên đoán được tình thế nhiễu nhương của đất nước tôi, sự tàn phá quê hương tôi sau này, khi chiến tranh bộc phát ác liệt. Những ngày cuối năm sáu mươi bẩy, đầu năm sáu mươi tám, những ngày chót tôi còn phục vụ tại Sađéc trước khi được thuyên chuyển về Saigon, tôi đã gián tiếp chứng kiến những cảnh chiến tranh ác liệt giữa việt cộng và sư đoàn chín. Những buổi trưa thứ sáu, tôi rời lớp sớm để ra bến đáp xe đò về Saigon, trên đường về từ Sađéc đến Mỹ Tho, tôi đã thấy vô số những xác việt cộng bị lính Cộng Hòa giết và đem ra bầy ở hai bên lộ. Cảnh giết chóc đó đã làm ruột gan tôi thắt lại, tôi cảm thấy đau đớn làm sao khi nhìn quê hương mình chìm dần vào cuộc chinh chiến ngày càng khốc liệt, càng đẫm máu. Tôi thấy đau sót làm sao trước cảnh huynh đệ tương tàn. Nhưng những cuôc khủng bố, ám sát vô lương tâm của việt cộng làm tôi uất ức. Tôi không thể hiểu đuợc tại sao họ có thể nhẫn tâm cắt cổ, mổ bụng cả những đàn bà và em bé chỉ để cảnh cáo tuyên truyền. Đến khi quân lính cộng sản tràn vào chiếm đóng Saigon, nhìn những khuôn mặt ngây ngô hiền lành của những anh bộ đội, tôi lại càng không hiểu được sự tàn ác trước kia của họ.

Những đĩa cơm sườn nướng thơm phức kéo tôi trở về với thực tại. Tôi có mang theo chai rượu thuốc uống dở. Đó là chai rượu rắn mà tôi đã khui trưa nay để đãi Hai Học. Y đã uống liên tiếp nhiều ly nhỏ, miệng ba hoa “Anh hên lắm! Chuyến này đi thế nào cũng êm suôi. Rắn đi, qui ở lại. Anh cho tôi uống rượu rắn. Rắn là biểu tượng của sự ra đi tốt đẹp. Anh cứ tin tôi đi! Anh có phước lắm mới gặp tôi. Cái đức của tôi rất lớn. Anh sẽ được hưởng cái đức đó!”  Sau khi ăn xong bữa cơm, y dặn tôi nhớ mang chai rượu theo khi đi. Vì thế mà suốt buổi chiều, kể từ khi rời nhà, con tôi đã phải ôm chai rượu.
Hai Học kêu hột vịt lộn và chúng tôi ngồi vừa nhâm nhi vừa nói chuyện. Sau đó tôi ăn vội đĩa cơm vì đò đã sang tới.

Trời đã xẩm tối khi chúng tôi bước lên chiếc phà lớn chở cả người lẫn xe hơi, xe bò, xe đạp, xe gắn máy băng qua con sông Tiền Giang rộng thênh thang, một ngánh của sông Cửu Long nổi tiếng vùng Á Châu. Gió thổi lồng lộng, làm cho tôi nổi da gà. Xa xa lấp lánh những ngọn đèm lờ mờ, từ phiá bên kia sông còn được gọi là Hậu Giang. Trên đò những cô gái quê còn nán lại mời khách mua thuốc hút, kẹo bánh, nước trà nóng hay trái cây. Hai bên đò có từng lầu để khách bộ hành ngồi. Chúng tôi leo lên đó và cháu bé lại ngồi với Xinh trong khi tôi và Hai Học đứng dựa thành đò hút thuốc. Hai Học bảo tôi là phải đi gấp cho kịp ngủ đêm tại Sađéc hay Long Xuyên.
Khi đò vừa cặp bến chúng tôi ùa lên cùng với đám đông người bộ hành. Xinh nắm tay con tôi và chúng tôi bước rất nhanh. Trời đã tối đen, chắc đã hơn bẩy giờ rồi. Những chiếc xe đò đi miền tây không còn nhiều, chỉ còn dăm ba chiếc, còn lại bao nhiêu là những xe vận tải lớn. Hai
Học gặp xe nào cũng hỏi thăm xem có đi Long Xuyên hay không để chúng tôi quá giang nhưng không xe nào nhận cả. Tôi thấy hơi lo lo vì ngủ lại ở bến bắc rất nguy hiểm, dễ bị xét bắt.
Hồi tôi ở tù Tiền Giang, tôi quen biết một nhóm bị bắt tại bắc Mỹ Thuận, vì họ đã ngủ đêm tại đó, chờ sáng sớm lên ghe vượt sông ra biển. Tôi hỏi Hai Học liệu có xe đi Long Xuyên hay không, y càu nhàu với tôi và bảo tôi để y lo, đừng hỏi nhiều. Tôi bị chạm tự ái và không nói gì với y nữa. Tôi nghĩ bình thường ra y chẳng là gì đối với tôi cả. Học vấn, hiểu biết, tư cách, có gì đáng để tôi phải phục tùng y đâu? Chẳng qua là hoàn cảnh đưa tôi đến chỗ phải tuân theo lời y, làm những gì y bảo. Tôi bực mình lắm nhưng tự nhủ là mình phải tự kiềm chế vì đường đi còn dài lắm.

Chúng tôi đi bộ đến ngã ba nối liền Mỹ Thuận với Vĩnh Long và Mỹ Thuận với Sađéc. Chúng tôi leo lên một chiếc xe lôi để đi Sađéc. Xe nhỏ xíu mà chở cả chục người, thật là khủng khiếp. Xe thì ọp ẹp, mui vải bố căng bằng những thanh  sắt mỏng dính, bám vào lắc lư như răng ông lão. Cháu bé tôi được ngồi vào giữa. Trời tối đen như mực, chẳng còn ai có thể thấy được mặt ai nữa. Chiếc xe lao đi vùn vụt. Thật là không ngờ vì xe chở nặng mà sao chiếc Honda lại có thể kéo khoẻ đến thế! Tôi nghĩ xe chạy cũng phải đến năm mươi hay sáu mươi cây số giờ. Đường thì không có đèn đóm gì vì khu vực nông thôn này chưa có điện. Đây đó lác đác vài ngọn đèn dầu leo lét cháy. Chiếc xe leo qua cả chục chiếc cầu nhỏ, xe nhẩy bổng lên rồi rớt xuống, hành khách cố bám viú vào xe hay bám vào nhau. Thật là hãi hùng, thế mà không có ai rớt xuống lộ. Lần đầu tiên trong đời tôi đã đi một chuyến xe kinh hoàng như vậy. Xe lắc lư, nhẩy lên nhẩy xuống, đít tôi chuyển động, trợt ra phía ngoài như muốn rơi xuống đất. Tôi bám vào thành xe, ngồi lại cho vững rồi cứ như thế, đít tôi lại tuột ra ngoài, tôi đã phải sửa thế ngồi không biết bao nhiêu lần.
Thế rồi khi xe đang chạy ngon trớn thì bổng nhiên máy nổ lạch phạch rồi tắt ngủm. Tài xế lẹ làng trở về số không để xe theo trớn tiếp tục đi được thêm một quãng nữa. Hành khách phàn nàn “Còn chút xíu là đến nơi! Sao không chạy thêm một khúc rồi hư có hơn không?” Tài xế trả lời gọn lỏn “ Hết xăng! Lúc nãy đi gấp quá, quên mẹ nó ghé mua thêm xăng! Mà có dè đâu hết ngay giữa đường như dầy?” Hắn xuống xe, bảo đồng bào xuống hết, rồi hắn gỡ con ốc bự nối liền chiếc xe lôi với yên chiếc Honda. Mọi người nâng chiếc xe lôi trong khi hắn nghiêng chiếc Honda để cho xăng từ phía bình dự trữ chảy sang. Rồi hắn ráp chiếc xe lôi trở lại, đạp hai ba cái. Máy xe lại nổ ròn, ai nấy vội vã leo lên và chiếc xe lại lao đi vùn vụt, chẳng bao lâu thì chúng tôi đến ngoại ô Sađéc, nơi có bến xe đi Vàm Cống.
Sau khi lội bộ vài trăm thước, chúng tôi leo lên một chiếc xe vận tải nhỏ đã được sửa lại thành xe chở hành khách. Từ Sađéc đến Vàm Cống không bao xa nhưng vì đường quá xấu nên phải mất hai tiếng đồng hồ. Xe đi ì ạch, nhồi lên nhồi xuống vì đường đầy ổ gà. Con đường này không còn được coi là quốc lộ, chỉ còn những xe đò nhỏ liên tỉnh chạy. Xe thì có hai tài xế để kìm bánh lái, thật là kỳ khôi! Hành khách mới đi lần đầu không hiểu đã chửi tài xế cà chớn, không tự lái được mà lại còn phải có người lái phụ.  Lúc đó khoảng tám giờ tối. Khi ra khỏi Sađéc, chúng tôi chạy giữa một rừng người đi xem hôi chợ.

Dưới chế độ cộng sản, hội chợ là một phương cách kiếm tiền của cán bộ địa phương. Tổ chức hội chợ là để moi tiền của dân, giá vào cửa là một đồng mà lương của công nhân chỉ có hai đồng một ngày. Chưa nói đến khi vào hội chợ còn ăn uống, chơi các trò chơi này kia, cái gì cũng phải mất tiền.
Ở Saigon vào cuối năm tám mươi, đầu năm tám mươi mốt, vườn Tao Đàn là nơi thường xuyên tổ chức hội chợ. No-en hội chợ, tết hội chợ. Sau đó chẳng lễ lạc gì cũng hội chợ. Và bên cạnh hội chợ là trăm ngàn trung tâm giải trí “văn nghệ tuổi trẻ” cho các ban nhạc xịch bùm bùm, các ca sĩ nghêu ngao, lúc đầu là nhạc xã hội chủ nghĩa của cu ba liên xô, sau đó được đà, hát luôn cả nhạc pháp, nhạc anh. Thật là hổn độn, vô lý vô luân.

Vô lý là vì trong khi toàn dân đói khổ, không có cơm ăn, thì nhà nước lại cho tổ chức những nơi “giải trí” để cho những thanh niên thiếu nữ đang bất mãn tuyệt vọng đến ăn chơi xả láng. Những ngày còn ở Saigon hồi đó, tôi chạy xích lô. Dân càng ăn chơi giới xích lô chúng tôi càng khoái vì dân ăn chơi thường đi xe mà không trả giá, bọn tôi kiếm được nhiều tiền. Chạy xe chỉ
ăn vào những ngày có lễ lạc, những ngày Giáng Sinh hay Tết, khi mà những thanh niên thiếu nữ sống xả láng, sống cho quên những ngày hận đời, những lúc buồn nản. “Sống được ngày nào thì sống hưởng được lúc nào thì hưởng”, đó là lời nói của một thiếu nữ tuổi mười sáu mười bẩy, mặt môi thoa phấn son lòe loẹt, ăn mặc hở hang lố lăng, mà tôi đã chở từ vườn Tao Đàn về cư xá Nguyển Thiện Thuật. Tôi nói “Tuổi em là tuổi đi học chứ đâu phải tuổi ăn chơi?”, cô ta liền cong cớn “Chú phải cho tụi cháu hưởng đời chứ! Hưởng rồi chết!” Không hiểu bọn lãnh đạo Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã nghĩ sao khi thấy thanh thiếu niên sống buông thả như thế, nghĩ sao mà lại khuyến khích giới trẻ sống hưởng thụ vật chất, sống cho ngày nay không biết đến ngày mai? Tôi đã chở bao nhiêu khách và đã bao lần tâm sự với họ. Tâm trạng của tất cả, già trẻ lớn bé, là tuyệt vọng hoàn toàn, chán chường rã rời. Không phải vì sung sướng, vì vui đời mà họ đi chơi, đi dạo, đi ăn, đi uống cà phê, hay đi nghe nhạc ngoại quốc. Họ đã hành động vì chán chường, vì thất vọng, vì không còn lối thoát nào cho cả hiện tại lẫn tương lai. Đi chơi ăn diện, rượu chè ăn uống, thuốc lá cà phê, trai gái đĩ điếm là những phương cách để họ tạm quên đi cái thực tế đau đớn ê chề mà họ phải sống bao ngày, bao tháng, bao năm rồi. Quang cảnh của một Saigon ăn chơi không khác gì xưa nhiều lắm, vẫn ăn diện, vẫn cà phê thuốc lá ba con năm anh tẹc (555 international), dunhill, samit, nhưng đó là Saigon ăn chơi giả tạo, để nhái lại từ ngữ “ Saigon phồn vinh giả tạo” mà bọn cộng sản đã rêu rao, Saigon đói kém giẫy chết, hay nói đúng hơn, Saigon lay lứt sống trong một miền nam tiêu cực vô sản xuất.

Tôi thật đau lòng khi nhìn Saigon thân yêu của tôi sống trong mâu thuẫn, sống trong nghịch cảnh như thế. Đó cũng là một lý do đã thúc đẩy tôi ra đi, tôi đã không còn muốn nhìn những thanh thiếu niên rường cột của tương lai đất nước tự hủy hoại thân mình như vậy nữa. Bản chất thày giáo của tôi không cho phép tôi chấp nhận lối sống tiêu cực của họ. Thế mà đảng và nhà nước miệng lưỡi vẫn hô hào “mười năm trồng cây, trăm năm trồng người”, “đặt cả tương lai vào thế hệ trẻ”. Thật là bịp bợm lố lăng! Chính những con cái chúng cũng sống buông thả như vậy, cũng din (jeans), cũng áo pun (pull) hở rốn, cũng giầy cao gót, cũng tóc phi dê (frisé), cũng má phấn môi son đi õng ẹo ngoài đường phố, ăn chơi chẳng khác con cái bọn “ngụy quân ngụy quyền”.
Tôi đã không dè các tỉnh cũng có cảnh đó. Những lần đi Mỹ Tho lo giấy tờ sau khi tôi được thả tù, tôi cũng đã thấy những quán cà phê, những điệu nhạc xập xình từ những máy thâu băng. Bây giờ thì tại Sađéc, một tỉnh nhỏ, cũng hội chợ, cũng trai gái lũ lượt đi hưởng những giây phút sung sướng để quên đi cái khổ triền miên của mình, của bạn bè anh em, của cha mẹ bà con mình, cái khổ do bọn cách mạng vô sản vô loài đem đến khi “giải phóng” miền nam.

Còn vô luân là vì nó đi ngược lại đạo lý con người, ngược lại tất cả những quan điểm đạo đức, kể cả cái đạo đức cách mạng mà Hồ chủ tịch của chúng đề ra. Khi người dân thiếu ăn thiếu mặc thì lẽ ra phải khuyến khích lao động sản xuất, đằng này lại xúi ăn chơi, hưởng thụ. Mục đích chính trị thâm độc của cộng sản là đầu độc, giết chết tuổi trẻ miền nam. Vì thế mà chúng đã cho phép mở hàng ngàn quán cà phê, quán bia, quán nhạc, hàng trăm trung tâm giải trí để ru ngủ giới trẻ, đưa thanh niên vào con đường hủ hóa xa đọa. Quận nào phường nào cũng mở ra hàng chục, hàng trăm “cửa hàng ăn uống quốc doanh” để làm nơi tụ tập của thanh và trung niên đến uống la de cho tiêu sầu. Bao nhiêu quán cóc đã mọc lên khắp nơi để cho những kẻ bất mãn đến uống rượu? bao nhiêu vạn lít đế đã được nấu để cung cấp cho những quán nhậu đó, thứ đế không phải nấu từ nếp mà từ bã mía, có nồng độ cao, uống vào xé cổ, phá ruột gan tì phế? Ai cho phép mở những quán nhậu đó? Ai cung cấp hàng chục vạn lít bia hơi hàng ngày? Ai cho phép sản xuất đủ thứ rượu để phá hoại tinh thần của nhân dân, làm nhụt chí những ai còn chút ý chí?
Làm sao không vô luân khi thủ tiêu ý chí nghị lực của tất cả những ai còn sống trên mảnh đất miền nam như vậy? Thà rằng như bọn Khờ me đỏ, dùng súng đạn mà thủ tiêu thân thể con người còn hơn là giết dần giết mòn tâm hồn dân tộc tôi như thế. Đối với tôi, Khờ me đỏ không tàn bạo bằng cộng sản Việt Nam, Pôn Pốt Iang Sari không thấm đâu với Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng.
Sự thâm độc của bọn lãnh đạo cộng sản Việt Nam còn thể hiện rõ ràng trong việc thiết lập hàng
trăm trại cải tạo, nơi đã giết chết bao nhiêu người Việt ái quốc ưu tú, nơi đã đang và sẽ còn đầy
đọa bao nhiêu đồng bào thân thương của tôi, kể cả hai người anh máu mủ ruột thịt yêu quí của tôi.

Chính tôi, vào những năm ấy, cũng đã chìm đắm trong men rượu để quên đi những uất ức sầu khổ, quên đi nổi bất mãn tuyệt vọng nung nấu lòng mình. Những tháng cuối của tôi trên đất nước Việt Nam thân yêu là những chuổi ngày đau đớn nhất trong đời. Tôi đã mất hết ý chí nghị lực, mất sức đấu tranh vốn tiềm tàng trong hồn tôi, tôi đã buông trôi đời mình, thả nó nổi lềnh bềnh theo định mệnh. Tôi đã đưa tôi vào ngõ bí, vào con đường cụt không lối thoát. Hằng ngày tôi đã lấy rượu làm thuốc giải sầu, lấy thuốc hút làm cách quên lãng, cố giải tỏa những phiền muộn ray rứt trong lòng. Khói và men rượu đã đưa tôi đến một thế giới của riêng tôi, không là một thế giới như tôi hằng mơ ước nhưng ít ra cũng xa cái thực tại đau thương mà tôi đang phải chịu đựng. Ít ra tôi cũng đã thoát khỏi cái thế giới đầy kinh hoàng mà bọn cộng sản đã mang đến, cái thế giới độc tài, ác nhơn thất đức.



Thế rồi mặc cho đường xấu lởm chởm đá và nhiều hố sâu, chiếc xe cọc cạch cũng đã đưa chúng tôi được đến bến Vàm Cống. Trời tối mịt mù, gió lạnh làm cha con tôi run cầm cập. Hành khách  thở phào nhẹ nhõm, kẻ vươn vai, người vặn mình trước khi đi tiếp. Tôi nắm tay con tôi, hỏi cháu một câu bằng thừa “con có mệt không?” để được thấy cháu cười gượng, lắc đầu trước khi hỏi lại “sắp đến chưa bố?”. Tôi cho cháu hay là qua phà lần này rồi chúng tôi sẽ đi Long Xuyên, ngủ lại một đêm ở đó chờ sáng sớm mai đi Châu Đốc.

Đò Vàm Cống nhỏ, chỉ chở được ba bốn chiếc xe đò. Đêm đến, khách qua đò thưa thớt. Chúng tôi lên đò dưới ánh đèn điện yếu ớt bên phà, tay tôi nắm chặt tay cháu bé vì sàn đò trơn ướt mà trời thì tranh tối tranh sáng không thể thấy rõ được lối đi. Gió đêm lạnh thấu xương. Thật là một kỷ niệm thú vị đối với tôi khi được qua đò vào một buổi tối đêm lạnh lẽo như thế! Tôi đã từng qua đò để đi miền Tây biết bao nhiêu lần nhưng tôi chưa bao giò có cái cảm giác lạ lùng như đêm hôm ấy. Hay là tại vì đó là lần chót tôi lên đò để qua một con sông trên quê hương thân yêu của tôi?
Mà tại sao lại lần chót? Tôi chẳng nghĩ tôi ra đi để rồi sẽ có ngày về hay sao? Chắc tôi đã u mê khi viết những giòng chữ này, những giòng chữ kể lại những ngày trước khi ra đi bỏ lại quê hương. Phải chăng tôi đã điên rồ khi quyết định bỏ nước trốn đi? Tôi đâu đã còn lý trí? Sau sáu năm bị đầu độc bởi những lời tuyên truyền mê hoặc của bọn quỉ đỏ, bị bịt tai bịt mắt, không còn biết gì về thế giới bên ngoài, chúng tôi đã sống trong ảo tưởng, trong mộng mơ hão huyền. Chúng tôi đã tin vào những chuyện không thể có, như chuyện quân ta vẫn còn trong rừng, biệt kích quân của ta vẫn đánh phá khắp nơi, dân ta đã nổi dậy chiếm đóng nơi này, nơi kia. Tôi đã chẳng đi Cát Lái, Vũng Tầu để mong tìm gặp lực lượng chống đối hay sao? Ước mong của tôi chẳng là được gia nhập lực lượng đối kháng để chống lại kẻ thù chung hay sao? Nhưng sau khi những ảo tưởng tan biến đi thì chỉ là thất vọng ê chề. Làm gì có lực lượng đối kháng? Tìm đâu ra được một anh lính Cộng Hòa kháng chiến khi mà ta đã đầu hàng địch, nói chi mơ tưởng đến cả sư đoàn quân ta rút vào rừng U Minh với đầy đủ đại bác xe tăng thiết giáp? Càng mơ tưởng hơn là chuyện Không quân Mỹ về giúp ta đánh phá lực lượng địch.
Thế rồi tôi mơ tưởng ra đi để có ngày trở về vinh quang, tự đặt cho mình những hoạch định viển vong, tự đề ra những việc sẽ làm khi đến đươc một đệ tam quốc gia. Để rồi giờ đây, ngồi trong trại tị nạn, bị thực tế oái oăm quất vào tâm trí, làm tan biến đi biết bao mộng đẹp. Nay tôi đã chạm chán với những bi ai của kẻ tị nạn, tôi đã đọc báo của Việt kiều hải ngoại, đọc cuốn Ile de Lumière của Alain Kouchner, đọc những báo Thái, báo pháp, báo Mỹ, tôi bổng nhiên ý thức thân phận của những kẻ ly hương. Không phải là cứ đến được một nước tự do là muốn làm gì thì làm, là cứ đem những hoạch định của mình ra mà thực hiện.
Tôi đã thơ ngây, hay ngu dại, hay ngớ ngẩn? Sống bao nhiêu năm trong tuyệt vọng chán chường, tôi đã quá mơ ước, mơ ước ở tương lai, mơ ước ở con người Việt, mơ ước ở  tự do công bình bác ái. Tôi đã mơ đến một xã hội lý tưởng, tin ở con người nhân đạo, tin ở sự thương yêu. Trong tuyệt vọng, tôi đã tưởng tượng ra một thế giới của tình thương, của đùm bọc lẫn nhau. Nay tôi đã trở về với thực tế. Tôi bổng nhận thức rằng những con người ở ngoài
nước cũng chẳng khác những con người trong nước bao nhiêu, cũng tàn nhẫn vô lương ích kỷ, cũng tham lam bóc lột ăn hại như thế.
Thế giới nào là thế giới của con người mà Saint Exupéry đã mơ tưởng đến khi ông bay cao trên trời, xa cách với thực tại? Trái đất nào là trái đất của loài người mà ông lại viết cuốn Terre des Hommes? Ông đã đau khổ khi sống trong một thế giới vị kỷ, thiếu tình thương giữa con người và con người. Nhưng cái đau khổ của ông đã thấm gì so với cái đau khổ của những kẻ như tôi, sống dưới gót chân dày xéo của bọn quỉ đỏ? Không chỉ thiếu tình thương thôi mà là cả một sự hủy diệt nhân tâm, không phải chỉ không có lòng người mà chỉ còn lòng thú. Tại sao bọn cộng sản lại coi chúng tôi như những người máy vô tri vô giác? Họ đã nhẫn tâm chà đạp lên nhân phẩm của chúng tôi.
Tổng Thống Mỹ Carter đã đề ra chiến lược bảo vệ nhân quyền. Nhưng làm gì có nhân quyền trên trái đất này cho những kẻ thấp cổ bé miệng, những kẻ “trần truồng”, những người vô sản chân chính? Chuyên chính vô sản là cái quái gở mà bọn cộng sản đặt ra để lợi dụng giai cấp vô sản, cướp chính quyền, rồi một khi nắm được quyền lực trong tay không còn nghĩ gì đến giai cấp vô sản nữa.
Cộng sản cũng bóc lột giai cấp vô sản như những giai cấp khác, có khi còn tàn bạo hơn. Giai cấp vô sản đã được gì sau cuộc đấu tranh đẫm máu? Họ đã hy sinh thân xác để rồi được hưởng cái gì sau khi cách mạng thành công? Ai là người vô sản mà có được quyền lực trên trái đất này? Ai mà lại đi bảo vệ quyền lợi của giới vô sản? Chẳng qua chỉ là lợi dụng lòng nhẹ dạ của nhưng con người quá đau khổ, dễ tin những lời mặn ngọt đầy quyến rũ của bọn cộng sản đầu cơ chính trị.
Vả lại, thế giới này đâu phải của riêng chúng tôi, những người Việt thấp cổ bé miệng, thiếu cái gì đó trong tay để nói chuyện ngang hàng với những dân tộc hùng cường đã phát triển? Thế giới này đâu phải của những nước chậm tiến, của những dân tộc Á Phi và Nam Mỹ, những dân tộc từng bị bóc lột và nay bị coi thường? Họ đâu có quyền tự quyết? Đâu có độc lập tự do thực sự? Thật là tàn nhẫn, nhưng đó chính là sự thật. Và tôi cũng như Saint Exupéry mơ đến một trái đất của loài người.

Tôi không triết lý, không lý luận ở đây. Tôi cũng chẳng có khả năng lý luận.Tôi chỉ muốn bộc lộ những cảm nghĩ của tôi, những cảm nghĩ chân thành của một kẻ bị buộc phải phải ra đi, bỏ lại những gì thân yêu nhất, những gì lưu luyến nhất tại quê nhà. Ra đi để có ngày trở về. Nhưng có đươc ngày trở về đó không? Trước đây tôi đã tin là có, tôi đã không một chút hoài nghi. Nay tôi không tin là sẽ không có ngày đó, nhưng tôi thấy trước mắt muôn vàn khó khăn. Ngày đó sẽ còn lâu lắm mới đến? Có thể tôi sẽ tôi chưa là kẻ may mắn được đặt chân trên đất mẹ. Phải là con tôi, hay cháu tôi? Nhưng thế nào cũng sẽ có ngày người Việt vinh quang trở về. Chỉ là vấn đề sớm hay muộn.



Đò từ từ cập bến và chúng tôi nhẩy lên bờ. Bến Vàm Cống tương đối nhỏ nên hai bên lộ không có nhiều hàng quán, phần vì đường Sađéc-Long Xuyên không còn tấp nập khách như xưa nữa. Sau bẩy mươi lăm, bến đò Vàm Cống đã mất đi tầm quan trọng xưa kia của nó.  Chúng tôi lên một chiếc Lambro để đi Long Xuyên. Cả tôi lẫn cháu bé đều mệt lả vì suốt thời gian từ mười giờ sáng đến mười giờ tối, chúng tôi không hề dừng chân nghỉ, và đường đi lại quá vất vả.
Khi chúng tôi đến được ngoài Long Xuyên thì xe dừng và chúng tôi xuống. Đây là bến xe đi Châu Đốc, ở ngoại ô Long Xuyên. Lúc đó đã gần mười một giờ đêm, trời đen như mực, vạn vật chìm trong bóng tối, chúng tôi đi mà chẳng thấy những gì xung quanh. Đi một lúc thì tôi thấy những ngọn đèn dầu leo lét chiếu sáng một dãy hàng quán nhỏ vẫn còn đông khách ăn uống. Chúng tôi vào một quán bán cháo và đồ nhậu, ngồi xuống trước một cái bàn lùn tịt, giữa bàn bầy sẵn những chai rượu đế, rượu nếp than, rượu thuốc. Hai Học bảo người bán cháo, một người đàn bà trung niên, mập ú, múc cho chúng tôi mỗi người một tô. Vì bụng đói, tôi ăn ngon lành và chỉ trong mấy phút đã hết. Thấy thế, Xinh kêu cho tôi thêm một tô nữa.

Ăn xong Hai Học dẫn chúng tôi lại một căn nhà cách quán cháo khoảng hai trăm thước. Tôi nghe Hai Học thì thầm gì đó với mụ chủ nhà, rồi mụ trả lời lớn tiếng “không được đâu, thầy hai.
Tôi hổng dám đâu! Bữa trước an ninh đến xét đêm, tôi đã bị làm khó rồi!” Thế rồi mụ vào nhà trong, lấy mấy cái mùng, rồi đưa chúng tôi ra một bãi đất trống, nơi đây đã có mấy chục cái mùng chăng giữa trời. Hai Học nói nhỏ với Xinh đôi ba câu rồi quay sang tôi “Đêm nay mình ngủ ở đây. Tôi có nhà bên trỏng, nhưng đêm rồi vô đó sợ người ta dòm ngó rồi đi báo an ninh. Thôi ngủ đây chắc ăn hơn, sáng mai mình đi Châu Đốc sớm.” Tôi đã quá mệt nên cũng chẳng buồn phản ứng. Thôi lỡ rồi thì phải chịu!
Hồi còn ở Saigon, y khoe khoang “anh sẽ thấy tổ chức của tôi ở khắp các tỉnh. Tỉnh nào cũng có chỗ để các anh ở, nhà lầu điện nước đàng hoàng.” Khi ra đi, tôi đả hình dung một cuộc đi tươm tất vì y đã khẳng định rằng chúng tôi sẽ ăn tiệm, ngủ nhà lầu, có giường chiếu mùng mền. Đâu dè ăn thì đầu đường, ngủ thì bãi đất hoang.
Cháu bé ngủ với Xinh, tôi ngủ một mình trong một chiếc mùng đã căng sẵn giữa hai cột gỗ dùng làm dàn cây xây tường. Tôi nhìn một vòng xung quanh, toàn là dân đi buôn, kẻ lỡ đường, ngủ đỡ một đêm rồi mai ra đi sớm. Đàn ông, đàn bà, toàn là dân tứ chiến giang hồ, ăn nói oang oang giữa đêm tĩnh mịch. Tiếng cười cười, tiếng kêu oai oái của dân thập phương, tiếng thì thầm bàn tán, tiếng cãi lộn chửi thề, ôi thật là một thế giới kỳ ảo! Thật quả trong đời tôi chưa bao giờ trải qua một đêm quái dị như vậy.
Tôi chẳng ngủ được. Không biết cháu bé đã ngủ được chưa?  Trời càng về đêm, gió lạnh càng thổi và sương xuống ướt cả đỉnh màn.
Tôi nghe gần tôi cuộc đối thoại giữa hai người đàn ông, một bắc một nam. Cả hai đều say rượu. Họ vừa nói vừa chửi thề, phàn nàn mụ chủ quán tính gian tiền rượu sao đó, tính tiền hai lần chai rượu họ đã uống vì tưởng họ say không biết. Tiếng người đàn ông miền nam xừng xỏ như muốn gây lộn, rồi một bóng người lẻn đi, một chốc trở về nói “con mẹ đó tính gạt tụi mình! Nó tưởng anh em mình say. Tui đòi lại tiền chai rượu rồi! Đù mẹ, tụi nó tưởng ngon! Kêu rượu uống xong rồi lần lượt bỏ đi, để tui phải trả tuốt luốt!” Tiếng người đàn ông bắc hoà dịu “Thôi bỏ qua đi! Đi ngủ đi mày!” rồi tiếng người kia vẫn còn tức tối “Không phải tui không ngon! Đù mẹ, nhưng ghét bọn nó! Tiền mà làm chi, nhưng tôi không ưa bọn ăn xong rồi bỏ đi!” Những câu trao đổi qua lại làm tôi khó chịu không chợp mắt được. Lúc đó tôi chẳng nghĩ gì, đầu óc tôi trống rổng và tôi chỉ muốn tìm được giấc ngủ để sáng mai có sức đi tiếp. Sau đó tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Tờ mờ sáng hôm sau, tiếng gà gáy, thêm vào đó là tiếng chân người đi qua đi lại, đã làm tôi tỉnh dậy. Trời còn tranh tối tranh sáng nhưng tôi đã thấy nơi căn nhà lá gần đó một nhóm người bu quanh một ngọn đèn dầu, ngồi uống nước, nói chuyện. Tôi chui ra khỏi chiếc mùng hôi tanh để đi kiếm chỗ đi tiểu. Tôi đi loạng choạng, vấp té mấy lần. Sáng ra tôi mới  biết mình đã ngủ đêm tại một bãi đất nơi đang xây cơ sở tiết kiệm của tỉnh.
Lần lần ánh sáng ban mai bừng lên khắp chân trời. Một mầu vàng nhạt tỏa ra làm cho cảnh vật bừng tỉnh như thể vạn vật đang thoát ra khỏi một cơm u mê. Bấy giờ trên con lộ xe người đã đi lại tấp nập.
Xinh cũng vừa thức dậy. Tôi hỏi Xinh mấy giờ? Sáu giờ sáng. Tôi hỏi Hai Học đâu? “Đêm qua anh Hai ngủ nhà vợ bé! Ảnh có nhiều bà lắm! Saigon có, Long Xuyên có, Châu Đốc có, Nam Vang có!” Thì ra Hai Học bỏ chúng tôi ở bãi đất hoang để về ngủ với vợ. Tôi đã thấy được bộ mặt thật của y. Cũng giả đạo đức, cũng phỉnh gạt như những tay tổ chức vượt biên khác! Y nói thì ngọt như mía lùi, cốt sao để người nghe êm tai bằng lòng tham gia và đưa vàng cho y. Khi tiền đã đưa rồi, thân đã dấn vào con đường chạy trốn, có muốn thối lui cũng chẳng được. Hai Học biết như vậy nên y chẳng cần giữ chữ tín. Miển sao y đưa chúng tôi đến nơi, đừng bỏ chúng tôi giữa đường, tiền mất tật mang, thì đã là phúc đức lắm rồi, còn ước gì hơn nữa. Vả lại cái ăn cái ngủ chỉ là phụ.
Đi tìm tự do, bao nhiêu người đã phải trả cái giá đắt hơn trăm ngàn lần! Tôi tự nhủ như thế nhưng lòng vẫn không yên. Đối với tiểu nhân thì mình phải đề phòng! Nhưng mà đề phòng thế nào bây giờ? Sau này, trong cuộc hành trình gian nan khổ cực kết thúc trong sự kinh hoàng tôi đã cảm thấy mình hoàn toàn bất lực! Một thân một mình ở đất lạ quê người, không nói được tiếng điạ phương, không biết đường đi nước bước thì mình chẳng biết làm gì hơn là cầu
nguyện, xin Trời Phật cứu giúp cho qua được cơn hoạn nạn.
Tôi bổng trở thành một tín đồ nhiệt tình và thành thật và nếu không có Trời Phật phù hộ thì tôi đâu có thể ngồi dạng chân hai bên chiếc thùng cạc tông đựng cá hộp do chính phủ Nhật Bản gởi cứu trợ dân tị nạn viết những giòng hồi ký này. “Lạy Trời lạy Phật, con đã mang ơn ngài cứu giúp con qua khỏi bao cơn hoạn nạn. Con đã hưởng được từ ngài bao phước lành! Con xin hứa với ngài sống một đời đạo đức, con sẽ cố làm nhiều chuyện phước đức để xứng đáng với sự cứu rổi của ngài!” Tôi đã bao ngày đêm  cầu nguyện, bao nhiêu lần nước mắt tôi đã trào ra, lúc ở nhà tù bọn lính para man rợ của mặt trận giải phóng Kămpuchia do những lãnh tụ Khờ me Xanh cầm đầu, hay lúc đang ăn cơm, lúc ngồi đơn độc trên một chiếc ghế giữa đêm tĩnh mịch của trại NW9 nơi biên giới Thái.

Và giờ đây nước mắt tôi lại tuôn ra thành giòng, lăn xuống hai bên má! Bao giờ tôi mới hết khổ đau? Bao giờ tôi mới tìm lại được niềm hạnh phúc đã mất? Mà đâu phải chỉ mình tôi đã khổ cực như thế? Bao nhiêu người đã bị đánh đập, hãm hiếp, trở thành tàn tật khi trốn khỏi quê hương thân yêu? Bao nhiêu người đã chết tức tưởi, chết nhục nhã, chết oan ức trên con đường lánh nạn cộng sản? Tôi đã mất gì đâu so với những người vợ mất chồng, người con mất cha, người con gái mất cái gì đó quí báu nhất đời? Tôi đã bị gì so với những cụ già bị bắt dọc đường, bị bỏ tù, bị tra tấn dã man hay những đứa trẻ thơ bất hạnh dẫm phải mìn trên đường rừng trong khi đang vui cười? Bởi vì có đứa trẻ nào biết ưu tư, biết buồn, biết sợ? Trên con đuờng có cái chết rình mò khắp nẻo, đứa bé nhỏ nào hay, nào biết? Ngây thơ  sao những đứa bé đó! Chết mà đâu có hay, đâu có đau đớn? Chỉ để lại đớn đau cho những ai đó sống sót trên cõi đời này.

Và ngây thơ như thế, con tôi đã dấn thân vào cuôc ra đi mà tôi đã bồng bột quyết định. Hay nói đúng hơn tôi đã quyết định trong sự náo nức của những kẻ kẹt lại nhìn những kẻ đã ra đi, đến nơi, và gởi về những tấm hình mầu bóng nhẫy. Nào com lê, nào cà vạt, nào thuốc lá xì gà,  nào săm banh, nào nhà cao cửa rộng xe hơi mới toanh, nào xa lông tủ lạnh ti vi máy hát! Người kẹt lại quê nhà nhìn vào đó mà háo hức, mà ước mơ đến một ngày mình cũng ra đi, cũng đến nơi, để rồi cũng có đủ thứ ngon lành như thế!
Nhưng ở đời đâu phải chỉ có những vật chất tầm thường đó? Mà tại sao lại tầm thường? Làm sao có thể phủ nhận được cái giá trị kinh tế căn bản của đời sống con người? Trong đói khổ ai coi vật chất là tầm thường, ai không hành động theo bản năng, ai có thể kìm hãm được lòng tham muốn? Chính do nhu cầu vật chất thúc đẩy mà ngay cả những trí thức cũng đã tranh giành nhau từng gói thuốc mốc, từng mớ rau thối, từng con cá ươn, từng miếng thịt mỡ, từng gói đường nhỏ đen thui, từng lít dầu lửa! Ôi bi ai làm sao cái cảnh phân phát nhu yếu phẩm ấy! Tôi không dám chê trách bất cứ ai, vì nếu chê trách thì tôi phải chê trách chính tôi trước tiên. Vì tôi cũng đã từng có hành động đáng chê trách ấy, để rồi tự khinh mình, tự chê mình là hèn hạ và tự thấy nhục nhã! Lắm khi hổ thẹn, tôi đã bỏ, không thèm lấy phần mình để rồi sau đó tiếc tiếc. Trong đầu tôi khi ấy có sự giằng co giữa lý trí và bản năng, có sự mâu thuẫn giữa tư cách con người và sự ham muốn vật chất. Tôi đã nửa muốn lấy nửa không, khi thì coi đó là quyền lợi, khi thì coi đó là ti tiện.

Tôi không muốn giả dối phủ nhận cái nguyên nhân kinh tế thúc đẩy tôi ra đi mặc dù đó không phải là nguyên nhân chính, nguyên nhân đơn thuần. Tôi đã không ra đi chỉ vì thèm một cuộc sống vật chất sung túc, tôi đã không liều mạng chỉ vì muốn được tiền nhiều, ăn ngon mặc đẹp. Nếu như vậy tôi quá tầm thường. Đời sống vật chất của chúng tôi  cũng chưa đến nổi nào. Chúng tôi không đến nổi quá khổ. Riêng tôi vẫn kiếm đủ tiền để nhậu nhẹt, vợ tôi tuy lương ít nhưng vẫn sống được, không thịt cá nhiều như sống ở nước ngoài, nhưng không đến nổi đói. Không nhà lầu xe hơi, không bơ sữa trái cây, không quần áo bảnh bao cuối tuần đi ăn tiệm, nhưng vẫn chưa phải chỉ vì kinh tế mà phải dấn thân vào chỗ nguy hiểm chết chóc.
Nhưng quả thật, nếu chỉ khổ một thời gian thì không đáng nói. Nếu chỉ phải chiụ đựng một vài năm như bọn cộng sản rêu rao thì đâu đến nổi nào, nhưng đằng này chúng tôi đã phải sống trong tuyệt vọng. Mà khi tuyệt vọng, thì người ta không còn lý lẽ để mà sống nữa. Con người hy sinh để thấy một ngày đẹp hơn, để thấy hạnh phúc nở hoa cuối đường hầm, không ai hy sinh được khi chỉ thấy mịt mờ, khi không phải chỉ là một mầu xám tẻ buồn mà là một mầu đen tang
thương bi thảm. Bọn cộng sản tưởng rằng cứ hứa hẹn, cứ cho bánh vẽ là nhân dân có được niềm hy vọng. Những kế hoạch năm năm của chúng là sản phẩm của sự ngu xi đần độn hay là sự mưu tính lường gạt, tôi cũng chẳng biết.
Nhân dân miền nam đã không ngu muội như dân miền bắc. Họ đã nhìn thấy ngay cái bộ mặt bịp bợm của cộng sản. Lý thuyết Mác Lê có thể đã hấp dẫn chúng tôi trong những ngày đầu “hồ hởi phấn khởi”, vì chúng tôi tò mò muốn biết nó ra sao. Trước bãy mươi lăm, tôi chỉ biết cộng sản qua lăng kính sai lệch của con mắt “tư bản”, qua cái nhìn không trung thực, phiến diện, không sâu sắc, không thấy đươc cái thâm độc của lý thuyết mác lê nin. Hồi đó, tìm hiểu lý thuyết cộng sản bị cấm đoán, đọc lý thuyết mác lê nin bị cho đi tù, những kẻ bị mê hoặc bởi cái
lý thuyết bịp bợm ấy đã trốn vào bưng, đi theo cái gọi là mặt trận giải phóng. Trần Như Tảng,
Dương Quỳnh Hoa, Lê Văn Nuôi (người học sinh Cao Thắng của chúng tôi thời xưa) thuộc vào hạng người này. Bọn cộng sản đã dùng sức quyến rũ của cái lý thuyết vô nhân bản này để tuyên truyền, lôi cuốn những kẻ nhẹ dạ, tin vào lý thuyết mà không nhìn vào thực tế, chỉ nghe lời nói mà không nhìn việc làm.
Lý thuyết mác lê nin đượm mầu ảo tưởng là con đẻ của vài kẻ điên cuồng, lý thuyết đó chỉ có giá trị trên lý thuyết mà chẳng có một tí giá trị thực tiễn nào. Làm sao mà đem những giáo điều của mác lê nin ra mà thực hiện cho được? Vì nếu mục đích của cách mạng vô sản là mang hạnh phúc đến cho con người, là xòa bỏ giai cấp, là đưa đến một thế giới đại đồng thì nó đã hoàn toàn thất bại. Cách mạng vô sản trên thực tế đã phản bội lý thuyết mác ăng ghen, nó đã
bần cùng hóa người dân, nó đã tạo ra một giai cấp thống trị mới ăn xương, hút máu nhân dân.
Miệng nói lật đổ giai cấp tư bản thống trị chuyên bóc lột giai cấp vô sản, mà thực ra hy sinh giai cấp vô sản để lên nắm quyền bính, tạo ra một giai cấp thống trị mới còn bóc lột giai cấp vô sản thậm tệ hơn trăm ngàn. Cộng sản bắt công nhân làm việc mà không cho ăn, cho nói trong khi tư bản, nhân đạo hơn, còn để công nhân ăn no, nói thoả chí.
Bọn cộng sản độc tài, vô lương tâm, vô nhân đạo đã làm mất đi ý nghĩa cao đẹp của danh từ “cách mạng”. Ngày nay nói đến cách mạng, người ta liên tưởng đến cách mạng vô sản, thứ cách mạng bẩn thỉu mà bọn mang danh mác xít dựng lên để trộm thời cơ.
Bao nhiêu trí thức trên thế giới đã rời hàng ngũ cộng sản khi thấy bộ mặt thật của bọn này? Họ đã “hồ hởi phấn khởi” gia nhập đảng để rồi thất vọng ê chề đến độ không những bỏ đảng mà còn chửi đảng, chống đảng kịch liệt nữa! Họ đã công kích mạnh mẽ nhất cái lý thuyết mác xít, và nhất là việc đem nó ra mà thực hiện.

Bao nhiêu người dân trước kia ủng hộ mặt trận giải phóng, sau này đã vỡ mộng, đã sáng mắt ra, đã nhìn rõ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của cộng sản. Họ đã ý thức sự lường gạt của mặt trận giải phóng, họ đã chửi thẳng vào mặt những tên cán bộ mà chẳng sợ sệt “Bao nhiêu năm tụi tao gánh gạo, gánh thịt rau vào bưng nuôi tụi bay, bây giờ tụi bay về trả ơn tụi tao như vậy đó ư?  Tụi bay phản lại nhân dân đã nuôi tụi bay sống để có được ngày hôm nay và bây giờ tụi bay có súng trong tay, tụi bay hoành hành, tụi bay muốn làm gì thì làm hay sao? Biết vậy tụi tao để tụi bay chết trong rừng cho rồi…” Điều khó sử đối với họ là những kẻ bây giờ đầy đọa nhân dân lại chính là bà con họ, con cháu họ chứ không phải là ai xa lạ. Đau đớn làm sao! Khổ tâm làm sao! Lỡ rồi đành phải chiụ chứ làm được gì bây giờ?

Con tôi vẫn còn ngủ ngon lành mặc dù trời đã sáng và xung quanh đã là cảnh huyên náo của một bến xe tỉnh nhỏ. Mụ đàn bà tối hôm trước đưa chúng tôi đến ngủ nơi đây đang thu gấp chiếu mùng mền. Con tôi trong cơn ngủ say, bổng chồm dậy nhìn ngơ ngác xung quanh nó, không hiểu mình đang ở đâu. Nhưng chỉ lát sau cháu đã thoát khỏi được cơn mộng mị và nhận thức được thực tế. Cháu nhìn tôi không nói gì nhưng tôi biết trong đầu cháu đang có muôn vàn câu hỏi mà không có câu trả lời. Tôi thấy trong ánh mắt cháu thoảng có sự lo âu và để đánh tan tâm trạng đó của cháu, tôi hỏi cháu có cần đi tiểu hay không. Cháu gật đầu, và chúng tôi đi ra phía sau, nơi có những cột trụ xi măng đang được dựng lên để làm sườn nhà cho trụ sở tiết kiệm tỉnh. Nơi dây có tấm bảng nhỏ ghi giòng chữ “Công trình xây dựng tỉnh Long Xuyên”. Thấy vắng vẻ, chúng tôi đái ngay nơi đó.
Cháu và tôi lững thững đi trở về chỗ cũ nhưng không thấy Xinh đâu. Chúng tôi đi quanh quẩn một lúc thì thấy Xinh đang đứng ở mé lộ, như thể đang chờ Hai Học. Tôi lại gần hỏi “Hai Học
nói bao giờ mình đi Châu Đốc?” Xinh quay sang tôi bảo tôi đừng nói lớn tiếng, sợ bị lộ. Tôi cảm thấy hơi khó chịu. Tôi không được nói lớn tiếng khi hỏi những câu  hỏi tầm thường, sợ người ta nghe, sợ người ta biết? Trong số những người xung quanh tôi có người là kẻ thù, muốn làm hại chúng tôi? Thật là vô lý, nhưng đó là điều phải chấp nhận trong xã hội cộng sản. Ai sẽ tố cáo chúng tôi? Ai sẽ đến còng tay chúng tôi? Mà chúng tôi đã làm gì nên tội? Tại sao lúc nào chúng tôi cũng lo sợ, cũng phải đề phòng? Bao nhiêu câu hỏi quay cuồng trong óc làm tôi muốn điên đầu.
Xinh và hai bố con tôi lững thững đi theo con lộ hướng về phía chiếc cầu nhỏ đưa vào thành phố Long Xuyên. Tôi đi sát bên Xinh hỏi lại “Mấy giờ đi Châu Đốc? Hai Học đâu?”  Tôi vẫn lo Hai Học bỏ chúng tôi giữa đường. Hôm trước Hai Học tính để chúng tôi đi với Xinh xuống Châu Đốc, còn y trở về Saigon đón bác Lũy và những người khác cùng đi chuyến này. Tôi không bằng lòng và đã phải năn nỉ mãi y mới chịu đưa chúng tôi đi Châu Đốc. Sau này tôi được biết chẳng phải vì y thương gì tôi mà là vì y không tin rằng Xinh và những bộ hạ của y có thể đưa chúng tôi đi yên bình và y sợ bẻ mánh.

Hai Học luôn coi mình là một nhân vật quan trọng, và muốn chỉ huy. Y bắt chúng tôi phải phục tùng y mà không hỏi vặn lại, tuân lệnh y triệt để. Thái độ của y củng dễ hiểu, bởi vì chỉ sơ xuất một tí là có thể bị lộ và bị bắt. Vì nguy hiểm luôn luôn rình mò, nên y thường xuyên nhắc chúng tôi là phải rất thận trọng, mặc dù tất cả những người xung quanh chúng tôi đâu phải đều là nhân viên an ninh cộng sản. Đa số là dân và họ cũng chẳng ưa gì xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng trong chế độ cộng sản, không biết ai là công an cán bộ, nên đề phòng là hơn hết. Hai Học buộc chúng tôi giử bí mật về chuyến đi này vì nếu bị bắt  y sẽ mất tiền và hơn nữa tổ chức của y sẽ đổ bẻ, y không những hết làm ăn mà còn phải đi tù nữa.

Khi nghe tôi hỏi Hai Học đâu Xinh luống cuống trả lời “ không biết sao ông Hai hẹn sáu giờ mà giờ này chưa tới”, rồi Xinh thở phào nhẹ nhõm “Ông Hai kia rồi”. Tôi nhìn trong đám đông mà chẳng thấy Hai Học đâu cả, cho đến khi nhìn thấy y từ chiếc xe lôi nhẩy xuống thì tôi mới vững bụng. Y trả tiền xe rồi băng qua đường rồi đi ngược chiều, không nhìn gì đến chúng tôi. Xinh vội dẫn con tôi băng qua con lộ và đi theo y. Tôi vẫn tiếp tục đi phiá bên này đường. Chút xíu sau đó tôi thấy y vào một quán ăn, rồi đến lượt Xinh và cháu bé vào theo. Tôi vội vã băng qua đường, lặng lẽ đi vào ngồi ngay tại bàn nơi Hai Học, Xinh và cháu bé đang ngồi.
Thấy tôi, y hất hàm hỏi “Đêm qua ngủ được không?” Tôi cười nói vừa đủ nghe “ Thì cũng phải ngủ được thôi”. Y xin lỗi đêm qua y để chúng tôi  ngủ ở bãi đất hoang “Vào châu thành vào lúc tối khuya với anh và cháu bé rất dễ bị nghi nên tôi không đưa anh về nhà tôi được. Anh ngủ ngoài này tuy có cực một chút nhưng bảo đảm. Việc chính là tôi phải đưa anh đến nơi.” Tôi nói không sao và tôi đồng ý với y là cực đến đâu cũng được, miển sao chúng tôi đi đến nơi. Tuy nói thế nhưng trong bụng tôi vẫn bực vì Hai Học nói khác khi còn ở Saigon.

Hai Học hỏi tôi đã rửa mặt chưa. Tôi hỏi vặn lại “rửa ở đâu, nước đâu, khăn đâu mà rửa?” làm y nổi xùng bảo tôi ra đằng sau quán, xin nước mà rửa. Khi tôi bảo khỏi thì y không chịu buộc tôi phải đi rửa mặt. Xinh đưa tôi và cháu bé ra sau quán và xin nước cho chúng tôi. Chúng tôi dùng tay rửa và dùng mù xoa (mouchoir) lau khô.
Khi chúng tôi trở lại bàn thì Hai Học đang ngồi trước một ly cà phê và một ly đế. Thấy tôi y nhe răng cười và, tay chỉ ly đế, nói “sáng ra phải làm một ly này cho nóng máy rồi tính sao thì tính”. Y hỏi tôi ăn gì, tôi nói hủ tíu.Y kêu chủ quán làm bốn tô. Chúng tôi phải ngồi chờ vì nồi nước lèo chưa sôi. Hai vợ chồng chủ quán đều mập ú, tuổi chừng năm mươi. Tôi thấy họ nhìn chúng tôi như muốn dò xét nên tôi cũng hơi lo.

Trên tuyến đường đi này, mặc dù là người bắc nhưng tôi luôn luôn nói giọng nam cho giống mọi người. Nói giọng bắc rất dễ lộ, nhất là tôi lại không có tí vóc dáng nào của dân lục tỉnh. Với đôi kính trắng và nước da chưa đủ đen mặc dù đã đạp xích lô hơn chín tháng rồi, đi đến đâu tôi cũng bị kêu bằng “Thày”. Tôi không hiểu cái gì trên gương mặt tôi làm tôi khác biệt với những người dân xung quanh. Ngay cả khi đạp xích lô khách nhìn tôi nhận ra ngay và gọi tôi là “xích lô thời cuộc”. Mặc dù tôi nói gia đình tôi ba đời đạp xích lô, tôi vẫn phải nghe họ nói “còn vàng thì
mỗi tháng bán đi một hai chỉ mà ăn, tội tình gì mà phải đi đạp xích lô cho cực cái thân, ông thày?”

Ăn xong, chúng tôi trở ra bến xe Long Xuyên để lấy xe đi Châu Đốc. Hai Học không muốn đi chuyến xe suốt vì xe đò lớn chạy liên tỉnh thường bị xét nhiều và xét kỹ, chúng tôi rất dễ bị lộ. Y leo lên một chiếc xe nhỏ, chạy đến một quận lỵ mà nay tôi đã quên mất tên, quận này nằm nửa đường tới Châu Đốc.
Xe chưa ra khỏi Long Xuyên thì bị chận xét làm tôi hết hồn. Từ khi rời Saigon, chúng tôi may mắn chưa hề bị xét xe. Nhưng an ninh chỉ kiểm tra giấy tờ xe mà không đả động gì đến hành khách. Thật là hú viá! Chắc mặt tôi khi đó xanh lè! Tôi được Hai Học cho biết rằng càng đến gần biên giới thì càng xét hỏi nhiều, do đó càng phải thận trọng. Nếu đi được đến Châu Đốc bình an thì đã là một sự thành công đáng kể.
Sau khi chạy hai tiếng trên con lộ còn khá tốt, chúng tôi đến nơi. Đây là một quận lỵ tương đối lớn so với những quận mà chúng tôi đã qua. Chúng tôi ghé chợ quận vì Hai Học cần đi tiểu. Trong khi chờ y đi tìm nhà xí, cháu bé tôi quên mất cả nguy hiểm, chạy sang bên kia đường nơi một đám đông đang bu quanh một toán võ mại sơn đông. Cháu đang mải mê xem biểu diển nội công, làm chúng tôi mất mươi phút đi tìm. Hai Học đã hăm he dọa cháu là nếu còn bất tuân lời, y sẽ bỏ cháu lại giữa đường.

Chúng tôi lại lấy xe đò nhỏ để đi tới Châu Đốc. Xe chạy được hơn nửa tiếng thì một quang cảnh bật thường hiện ra trước mắt tôi. Ỡ vùng cận biên này, các nhà cửa và chùa chiền đã đổi khác. Chúng tôi thấy những nhà sàn bằng gổ xây kiểu khờ me, và những chùa khờ me cũng đã bắt đầu xuất hiện. Cánh đồng nắng cháy báo hiệu chúng tôi sắp sửa sang tới một giai đoạn cam go hơn.
Chẳng bao lâu sau chúng tôi vào tới thị xã Châu Đốc. Chúng tôi đi đến chợ Châu Đốc bằng xe đạp lôi. Tôi nhìn quanh với một vẻ đầy lý thú, vì đấy là lần đầu tiên tôi tới nơi này. Hai Học dặn tôi tránh nói chuyện, tránh nhìn người xung quanh và nhất là tránh tiếp xúc với người lạ, làm tôi hồi hộp lo sợ. Lúc đó khoảng mười giờ sáng, Hai Học dẫn chúng tôi ra phiá sau chợ, nơi có nhà cầu công cộng, mua hai vé đưa chúng tôi và bảo chúng tôi đi tiêu. Tôi và cháu bé đi cầu mà ruột nóng như lửa. Đi xong chúng tôi phải chờ Hai Học khoảng năm phút mà tôi thấy dài như năm giờ. Trong năm phút đó, chúng tôi mắt không dám nhìn, tay không biết dấu đâu, chân nửa muốn đi nửa không. Lúc này Hai Học vẫn có thể bỏ rơi chúng tôi, sau khi y đã nắm hai cây vàng!
Thế rồi y xuất hiện cùng với Xinh. Y đưa chúng tôi đến ngã tư chợ, bảo Xinh đi tìm Bê rồi nói rằng y phải trở lại bến xe về Saigon. Y bảo chúng tôi vô một quán nước ngồi chờ Xinh nhưng tôi không chịu. Y đành dẫn chúng  đi một vòng chợ. Tôi thấy nào đường thốt nốt, nào xoài, nào cá khô, nhiều vô kể. Tôi nhớ lại khi ở Saigon vợ tôi phải vất vả lắm mới kiếm được đường thốt nốt. Trái lại, ở đây thì tha hồ mua. Chợ Châu Đốc cũng khá lớn và đa số những người buôn bán ở đó lai Miên như Xinh.
Hai Học dẫn chúng tôi đến một tiệm bán thuốc tây và nhờ tôi kiếm thuốc vì vợ y mới sẩy thai. Y không đọc được ngoại ngữ nên không biết mua thứ nào tốt. Sau đó, chúng tôi đến một tiệm hớt tóc và Hai Học buộc tôi phải cắt vì y nói tóc tôi quá dài, dễ bị để ý. Tôi tiếc bộ tóc nhưng cũng phải làm theo.
Từ ngày ở tù ra tôi đã phải mất sáu tháng mới có lại được bộ tóc đẹp! Ngày tôi ở tù Tiền Giang ra, trên chuyến xe đò Mỹ Tho-Saigon, ai cũng biết tôi là thằng tù chỉ vì cái đầu trọc của tôi! Họ hỏi tôi ở tù bao lâu, chạy bao nhiêu cây mà được thả, v..v… Nhà tù Mỹ Tho nổi tiếng là hắc búa, công an Tiền Giang nổi tiếng là làm tiền, rất nhiều người mất tiền chạy mà thân nhân không được thả. Ai bị bắt vào đó đều phải ở đó ít nhất là mười tám tháng, có người đã phải ở nhiều năm trời. Thật là khốn nạn. Số tôi may mắn có người chú vợ là thiếu tướng quân y Việt Minh, quen biết nhiều, nên móc được tôi ra sau khi tôi ở tù hơn chín tháng. Tôi mang ơn ông chú này suốt đời.
Khi tôi ra khỏi tiệm hớt tóc thì Hai Học và cháu bé đang ngồi trong một quán nước gần đấy. Y mời tôi ăn chè nhưng tôi từ chối. Lòng tôi đang băn khoăn không biết hai ngày nằm chờ ở Châu Đốc có êm suôi hay không. Lỡ bị bắt thì lại là một chuổi ngày tù tội.
Không phải tôi sợ ở tù mà tôi sợ vợ tôi, mẹ tôi và những người thân khác lại khổ tâm. Thời gian tôi ở tù Tiền Giang các bạn bè tôi thường xuyên thăm hỏi, đi lại, giúp đỡ gia đình tôi. Trong cơn hoạn nạn, tình thương bao la của họ đã là một niềm an ủi lớn cho tôi. Tuy nhiên tôi không ưa những kẻ giả dối, tỏ vẻ tội nghiệp tôi. Những lời nói ngoài miệng của họ là những mũi kim đâm sâu vào tim tôi. Tôi không muốn ai phải thương sót cho thân phận tôi! Tôi đã tập từ nhỏ luôn luôn chịu đựng, dù hoàn cảnh có cay đắng đến đâu cũng phải chập nhận và chịu đau thương
một mình. Tôi đã tự nhủ là mình phải có gan chấp nhận định mệnh, và nhiều khi chống lại định
mệnh nữa. Tôi đã quan niệm rằng rồi thì mọi chuyện cũng phải trôi qua, hoàn cảnh nào rồi cũng sẽ phải thay đổi và mọi việc rồi sẽ đâu vào đó. Do đó tôi không thích hai tiếng “tội nghiệp”.

Cũng may những ngày tôi ở Châu Đốc là những ngày an lành. Bê, chồng của Xinh, một người Miên lai nhỏ thó, đi chân đất, nói tiếng Việt không sõi đến tiếp nhận chúng tôi từ Hai Học. Hai Học đưa cho hắn một chỉ vàng và bảo hắn đi bán ở chợ. Chỉ một lát sau hắn trở lại giao tiền cho Hai Học rồi đưa tôi và cháu bé đi. Hai Học đã nói hai ngày sau sẽ trở lại Châu Đốc với bác Lũy và vài người nữa, rồi chúng tôi sẽ đi Nam Vang.
Chúng tôi vào chợ và Bê mua cho chúng tôi quần áo và khăn ô vuông đúng theo kiểu dân đi buôn ở địa phương để hoá trang vì từ Châu Đốc trở đi chúng tôi sẽ phải giả dạng dân đi buôn ở biên giới Thái.
Đi loanh quanh mãi mỏi chân hắn đưa chúng tôi vào trong lồng chợ ăn cơm. Hắn kêu một cái lẩu lớn và cơm. Tôi ăn ngon lành phần vì đói phần vì lạ miệng. Chúng tôi đang ăn thì Xinh dẫn một tên Miên khác to lớn con và không biết nói tiếng Việt đến. Xinh giới thiệu Sơ Rin với tôi. Vì không biết Sơ Rin có trong tổ chức hay không nên tôi giữ thái độ e dè. Tôi chẳng nói gì, chỉ ngồi nghe bọn này líu lo nói chuyện với nhau bằng tiếng Miên. Xinh thấy tôi không vui nên gợi chuyện cho tôi nói.
Xinh kêu tôi là “Cậu Hai” và luôn luôn kính trọng tôi. Có một lần Xinh nhìn tôi một chập lâu rồi nói “ Tôi biết cậu Hai làm lớn”, tôi hỏi Xinh tại sao lại nói thế thì Xinh trả lời “ Cậu Hai mang soi là biết liền” và Xinh bảo tôi nên tránh đeo kính ở Châu Đốc sợ người ta dòm ngó.
Ăn xong, Xinh Bê và Sơ Rin đưa chúng tôi đi một vòng xem tỉnh Châu Đốc. Xinh mặc sà rông sa tanh đen bóng, áo trắng có thêu hoa, tai đeo bông vàng, cổ đeo dây chuyền như thể đi xem lễ. Sơ Rin bám theo Xinh, còn tôi thì đi theo Bê. Cháu bé được Xinh rất thương nên luôn luôn được Xinh nắm tay. Chúng tôi đi thăm những nhà quen của Xinh và ngồi chơi mỗi nơi một lúc. Đấy là lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc với những gia đình Miên.
Đến khoảng hai giờ trưa, Xinh đưa tôi và cháu bé đến một căn nhà bên hông chợ có mặt sau nhìn ra sông. Chúng tôi ở đó tới chiều tối. Chủ nhà là một người tầu trước sinh sống ở Nam
Vang,  nói  rành  tiếng  Việt.  Sau  bẩy  mươi  ba,  rất  nhiều  người  tầu    người  Việt  đã  bỏ Kămpuchia về Việt Nam lánh nạn. Họ sinh sống ở Châu Đốc hay vùng quanh biên giới và sống bằng nghề đi buôn giữa Nam Vang và Châu Đốc, Mộc Hóa, hay Tây Ninh. Họ rành tiếng Miên và làm ăn với bọn Miên ở bên kia biên giới và ở Nam Vang.
Sau bẩy mươi lăm, họ vẫn còn giấy phép đi Nam Vang buôn bán, và vì thế họ thường tổ chức
đưa người đi vượt biên. Đưa người vượt biên còn lời hơn là đi buôn mặc dầu đi buôn lời đã nhiều. Xinh kể cho tôi nghe trước kia họ đi buôn giấy quyến, loại giấy cuộn từng khoanh lớn, bán kính nửa thước, nhập cãng từ trước khi cộng sản chiếm chính quyền ở Nam Vang. Khi bộ đội Việt Nam sang giải phóng Kămpuchia khỏi xiềng xích của Pôn Pốt Iăng Sari, những kiện giấy đó được tháo khoán khỏi những nhà kho, sau bốn năm nằm yên trong đó. Thời gian này con đường đi Nam Vang tấp nập người đi buôn vì trong số các mặt hàng, chỉ có đi buôn giấy là lời nhất. Xinh nói rằng chỉ cần chở bốn năm cuộn giấy từ Nam Vang về bán cho những mối hàng người tàu trực sẵn ở Châu Đốc là lời hai lạng vàng. Một tuần chỉ cần đi một chuyến là đủ. Trong khi đó buôn bán ở Saigon chật vật hơn nhiều, buôn giỏi lắm một tháng cũng chỉ lời sáu ngàn đồng, tức là hai lượng vàng. Mà đâu phải ai cũng kiếm được như vậy. Chỉ những con buôn gộc mới đạt được mức lời đó. Sau này làm ăn ở Châu Đốc và Tây Ninh không còn khá vì hàng hoá trong các kho ở Nam Vang đã cạn hết mà buôn đồ từ Thái Lan sang, tuy lời còn
nhiều, nhưng so với trước chẳng thấm vào đâu. Lý do là vì trước kia tính lời bằng vàng mà nay tính bằng tiền, mỗi chuyến lời hai ngàn nhưng giá vàng đã lên tới mười lăm ngàn một lượng!
Do đó mà họ chuyển sang buôn người, tức là đưa người đi vượt biên. Xinh nói với tôi rằng đưa một người sang Nam Vang bình yên thì được trả năm chỉ. Mỗi chuyến đưa bốn người thì cũng như xưa được hai lượng. Nhưng lẽ dĩ nhiên có nguy cơ bị bắt và khi đó phải chạy hai cây cho người và ghe ra, và như thế thì coi như không còn lời.

Xinh bảo tôi và cháu bé ở đó cho đến năm giờ sẽ đến rước đi ăn, rồi đợi khi trời xẩm tối sẽ đưa chúng tôi xuống ghe ngủ. Ngồi trong căn phòng nhỏ nhìn ra sông tấp nập ghe buôn bán ra vào, dỡ hàng hoặc lên hàng, tôi vẫn cảm thấy như thời gian khựng lại. Tôi không có đồng hồ để nhìn giờ, nhưng tôi ngồi nhìn sinh hoạt tại bờ sông bớt dần dần và đoán chắc đã khoảng bốn giờ chiều. Càng về chiều, ghe càng ít và những cu li vạm vỡ đã bắt đầu ngồi chơi vì không còn hàng để khuân vác. Sau đó tôi thấy họ đi tắm ngay tại con sông, thay quần áo rồi ra về. Tôi đoán chừng lúc đó là năm giờ.
Thời gian chờ đợi tưởng như mấy ngày chứ không phải mấy giờ. Nhìn mãi cũng chán, tôi bao lần nằm xuống chiếc phản gổ, nhắm mắt đi tìm giấc ngủ nhưng chỉ chợp mắt được năm phút là lại tỉnh dậy. Lẽ ra tôi phải ngủ say vì quá mệt.
Cháu bé cũng chỉ ngủ được nửa tiếng rồi cháu ra phía trước chơi với mấy đứa nhỏ trong nhà. Tuổi thơ ngây thật đáng yêu! Khi có bạn, dù là bạn mới quen, cháu đã tìm lại được sự hồn
nhiên của tuổi nhỏ, vui đùa mà không nhớ đến những khó khăn và hiểm nguy trực chờ những
ngày sau đó. Cháu đã quên đi những khó nhọc của hai ngày qua để trầm mình vào cái thú vui hiện tại. Nhìn cháu đùa chơi với những bạn mới quen, tôi thấy lòng lâng lâng nửa buồn, nửa vui.

Lúc Xinh đến đón cháu, tôi đang ngồi nhìn ra bờ sông nên chẳng hay biết. Tôi tưởng cháu vẫn ở đằng trước chơi với bọn trẻ và tới khi không thấy cháu đâu, tôi hớt hãi đi kiếm. Hỏi ra mới biết rằng Xinh đã đến đón cháu đưa xuống ghe rồi. Trở vào căn phòng nhỏ mà tôi có cảm giác đã quá quen thuộc, như thể tôi đã sống ở đó lâu lắm rồi, tôi cảm thấy cô đơn lạ thường. Các ghe trên sông không còn sinh hoạt như lúc trưa, chỉ còn vài người đứng tắm hay giặt trên ghe và trên cầu ván đưa xuống ghe. Cảm giác cô đơn lúc đó thật thấm thía. Tôi nhớ các con tôi còn ở nhà, nhớ gia đình tôi, mẹ, vợ, anh em, và tôi muốn trở về Saigon. Tôi không muốn đi nữa, dù có phải tốn dăm bẩy chỉ vàng cho Hai Học.
Thế rồi khoảng sáu giờ, khi trời đã xâm xẫm tối, Sơ Rin đến đón tôi. Chúng tôi đi dọc bờ sông, con đuờng nhộn nhịp của chợ Châu Đốc. Vì muốn tránh sự dòm ngó của những người xung quanh, tôi đã bỏ cặp kính vào túi áo nên tôi chỉ thấy lờ mờ. Cảnh chợ chiều cũng không còn nhộn nhịp và người đi mua cũng chỉ còn thưa thớt. Nhiều sạp hàng đã đóng cửa hoặc đang chuẩn bị đóng. Thấy trời đã tối xẩm và không còn nhiều người xung quanh, tôi lấy kính ra đeo.

Mười phút sau chúng tôi đến một con hẻm nhỏ tấp nập người đi xuống bến nơi ghe đậu. Tôi bình thản theo Sơ Rin bước trên những cầu ván, qua năm ghe nhỏ đến một chiếc ghe khá lớn, dài khoảng mười hai thước rộng ba thước. Tôi không thấy Xinh và cháu bé nên cũng hơi lo. Đang bỡ ngỡ thì Sơ Rin vẫy tay bảo tôi sang chiếc ghe bên cạnh, nơi có hai người đàn bà Miên ngồi chơi với một đứa bé hai tuổi trần truồng. Tôi cười xã giao, bước tới mũi ghe ngồi xuống. Sơ Rin với lấy nải chuối cau để cúng ở mũi ghe, đưa cho tôi. Tôi bẻ hai trái rồi đưa lại cho hắn. Tôi không thích chuối, ăn hai trái xã giao, trong khi Sơ Rin thoăn thoắt bẻ hết trái này đến trái kia, chưa đầy năm phút đã ăn hết nải chuối.

Hai người đàn bà nhìn tôi với đôi mắt tò mò. Đứa nhỏ chơi với chiếc đĩa không. Nó cầm chiếc điã liệng xuống sông. Mẹ nó chụp lại rồi lại đưa cho nó và nó lại liệng đi và cười to tiếng. Cứ như thế, trò chơi tiếp tục. Tôi nóng lòng ngồi nhìn hai mẹ con chơi mà chẳng biết làm gì hơn. Khoảng ba mươi phút sau đó thì Bê xuất hiện. Hắn kêu tôi trở về chiếc ghe của hắn và bảo tôi chui vào trong khoang. Hắn lấy chiếc cát sét ra vặn cho tôi nghe những bài hát Miên. Tôi có một cảm giác kỳ lạ khi nghe những bản nhạc lạ tai đó, một thứ nhạc kỳ dị, man rợ mà sau này suốt mấy tháng tôi phải chịu đựng. Nhưng lúc đầu tôi không thấy khó chịu, trái lại dường như hồn tôi
chìm vào quên lãng khi nghe thứ nhạc đó. Tôi nằm trên chiếc chiếu trải trong khoang ghe và để hồn tôi lơ lửng trong hư vô. Tôi chẳng còn nhận thức được những gì đang xẩy ra xung quanh, tôi cũng chẳng nhớ tới Xinh và cháu bé nữa, có lẽ vì lúc đó tôi quá mệt mỏi cả về tinh thần lẫn thể xác. Bê vào thấy tôi nhắm mắt, tưởng tôi ngủ nên tính bỏ ra ngoài. Tôi gọi giật hắn lại và hỏi cháu bé đâu. Hắn chẳng trả lời, chỉ bảo tôi chuẩn bị đi ăn cơm tối.

Chúng tôi ra phố và vừa lúc vào chợ thì thấy Xinh nắm tay cháu bé tính trở về ghe. Xinh nói nó đã đưa cháu đi chơi suốt buổi chiều và quả nhiên tôi thấy cháu thật hớn hở. Cả bốn chúng tôi đi dùng cơm chiều, rồi đi một vòng quanh chợ nơi đây bán đủ thứ rượu và đồ hộp trái cây. Dường như đó là những hàng nhập cảng lậu từ Thái Lan.
Khi chúng tôi trở về ghe thì trời đã tối hẳn. Xinh giăng mùng cho tôi và cháu bé ngủ rồi cùng Bê sang ghe bên cạnh ngồi chơi. Lúc ấy vào khoảng tám giờ tối. Vì chẳng biết làm gì hơn, tôi và cháu bé bèn đi ngủ. Chúng tôi cũng đã buồn ngủ  vì suốt ngày chưa một phút nhắm mắt và trong đêm qua cũng chẳng ngủ được bao nhiêu.

Thế là lại một ngày nữa trôi qua, còn ngày mai chờ đợi nữa và đến ngày mốt, khi Hai Học trở xuống thì chúng tôi sẽ thực sự bước vào cuộc hành trình vượt biên đi tìm tự do. Một ngày chờ đợi thật là ngao ngán, nhưng vì tình thế tôi phải chịu. Tôi chìm vào cơn ngủ với đầu óc tràn ngâp bao nhiêu thắc mắc, bao nhiêu câu hỏi quay cuồng trong tâm trí. Những ngày mai sẽ ra sao đây? Cái gì chờ đón chúng tôi ở mỗi bước ngoạch của con đường ra đi vừa gian khổ vừa đầy hiểm nguy? Tôi suy nghĩ mung lung và tôi lại càng thấy hành động để lại vợ con ở nhà, đi trốn một mình với cháu bé là dại dột. Mai đây trên con đường tị nạn, nếu tôi may mắn đến được cửa ngõ của thế giới tự do là biên giới Thái, thì tôi phải xa cách gia đình. Vợ con tôi sẽ ra sao? Lúc này không biết vợ tôi đang nghĩ sao về sự ưng thuận của mình? Nàng có hối tiếc vì đã đồng ý để cho chúng tôi rời mái ấm gia đình, bỏ tổ quốc đi lánh nạn hay không?
Có một điều kỳ lạ là vào lúc này, tôi không còn cảm giác sợ hãi như hồi sáng. Tôi cảm thấy an toàn khi ngủ trên ghe của bọn lái buôn Miên này. Một phần vì tôi tin tưởng ở bọn này, họ là những tay tổ chức đã có kinh nghiệm, đã từng đưa nhiều người ra đi, tất nhiên phải biết chúng tôi có gặp nguy cơ nào khi ngủ trên ghe họ hay không. Phần khác, ngủ trên ghe ít bị kiểm soát hơn là ngủ trên phố, nhất là trên ghe của người Miên. Trên đoạn sông này, hổn độn bao nhiêu
là ghe thuyền, lớn có nhỏ có, đậu chằng chịt bên hai bờ, làm sao có thể kiểm soát được? Do
vậy tôi yên tâm hơn.
Khi Xinh và Bê thả chiếc màn phủ kín khoang ghe, nơi chúng tôi nằm, thì bóng tối bao quanh chúng tôi hoàn toàn và chúng tôi đã ngủ lúc nào mà không hay.

Sáng sớm hôm sau tôi tỉnh dậy sớm như thường nhật. Có lẽ lúc đó khoảng 5 giờ sáng vì trời còn tranh tối. Tôi chui đầu ra ngoài, nhìn quang cảnh xung quanh. Các ghe bên cũng đã bắt đầu sinh hoạt. Các cô gái và các bà già thổi cơm trên ghe, ánh lửa bập bùng cháy, soi sáng khoảng sau của mỗi con thuyền. Tiếng người nói chuyện, cộng với tiếng nhạc từ các máy cassette vặn nhỏ đủ nghe, làm tôi có cảm giác sống ở một nơi xa lạ. Và đúng thật là xa lạ, vì thế giới của những người sống bằng ghe, sống trên sông, tôi đã bao giờ được bước vào đâu? Đêm qua là đêm đầu tiên trong đời, tôi ngủ trên ghe.
Tôi vẫn ao ước trước đây có một con thuyền để được sống nay đây mai đó, trên khắp các con sông. Cách đây hơn một tháng tôi đã xuống Vĩnh Long tính hùn hạp với một người quen, anh của một người anh rể họ tôi, mua ghe để cào tôm và đi buôn, đồng thời tìm đường trốn. Tôi đã nặn trong đầu tôi những giấc mơ của một cuộc sống mới trên ghe thuyền, một cuộc sống của dân chài lưới sống ở cửa biển và trên các con sông lớn dẫn ra đại dương. Hồi đó tôi đã tự tạo cho tôi một hình ảnh về con người tôi, vạm vỡ và xạm nắng, quen với gió sông và gió biển, quen với sương đêm và ánh trăng.
Nhưng sau đó tôi đã đổi ý, không tham dự vào tổ chức ấy vì lý do tôi nóng lòng muốn ra đi sớm, không thể sống ở đây chờ đợi một ngày mai đẹp trời nào đó, chúng tôi có thể đưa ghe ra khơi trực chỉ đất Thái hay Mã Lai. Chính vì tôi không thể kiên trì, không thể hy vọng sớm có một ngày đem được ghe ra khỏi cửa biển an toàn mà tôi đã phải hủy bỏ giấc mơ của tôi. Và khi bãi
bỏ dự định mua ghe tổ chức vượt biên cho gia đình mình, thì cũng là lúc tôi đã chấp nhận định mệnh là sẽ ra đi đơn độc, chấp nhận xa vợ, xa con, xa mẹ già và các anh em.

Cách đây bốn năm, chỉ  hai năm sau ngày bọn cộng sản tràn ngập miền Nam thân yêu của chúng tôi, thì tôi cũng đã một lần tham dự tổ chức vượt biên với một số bạn bè. Lần ấy, Biên và Huyên, hai giáo sư trung học bạn tôi và tôi đã tình cờ gặp Hạnh, một học sinh cũ của Biên, quê ở Cát Lái, Long Thành. Y mời chúng tôi về quê ăn giổ. Và tình cờ trong cuộc đi đó chúng tôi đã bàn đến vấn đề tổ chức vượt biên, khi thấy gia đình anh có một chiếc ghe mười hai thước có máy F10. Rượu tiệc xong xuôi, Hạnh đưa chúng tôi đi chơi bằng chiếc ghe ấy, đi theo con sông nhỏ ra đến một cồn đất ở giữa sông, cách Cát Lái khoảng hai cây số. Cồn đất này cũng thuộc sở hữu gia đình anh.
Nói là học trò nhưng năm đó anh cũng đã có vợ, một con, và cũng làm giáo sư cơ điện. Do vậy anh rành máy tàu và vì sống từ nhỏ đến lớn ở dưới quê nên vấn đề lái ghe, chuẩn bị ghe để ra đi anh có thể bảo đảm được.
Chúng tôi ra đến cồn đất lúc bốn giờ chiều. Gió sông mát rượi, chúng tôi ai nấy đều lâng lâng trong cơn men rượu hồi trưa. Vả lại cồn đất đó rất đẹp, ruộng lúa thơm chín vàng, ruộng mía cao, giữa cồn là một ao lớn thả cá, bên cạnh là chuồng heo và gà vịt nuôi cũng đến vài chục con. Ôi thật là thần tiên, thật là một thế giới cách biệt thế giới loài người. Chúng tôi nằm dài trên đống rơm bên ruộng lúa cười cười nói nói. Hạnh và vợ chuẩn bị bữa tiệc chiều mặc dù chúng
tôi hết mực từ chối và đòi ra về. Nhưng thấy sự nồng nhiệt và thực tình của anh, chúng tôi đã
đồng ý ở lại dự bữa ăn tối và như vậy là phải ngủ lại đêm ở đây. Ngủ đêm ở Cát Lái nguy hiểm vô cùng và chúng tôi đã quyết định như thế trong một lúc hứng chí. Chúng tôi đã sống ngột ngạt hai năm trời ở Saigon, đầu óc lúc nào cũng căng thẳng vì trăm điều suy nghĩ, ngàn mối lo âu.

Cuộc sống vật chất ở Saigon sau ngày bọn cộng sản xâm chiếm miền nam thật là căng thẳng. Gia đình nào mà chẳng ưu tư, khốn khổ vì miếng cơm manh áo? Giá cả gia tăng, đời sống khó khăn, bao nhiêu người thất nghiệp, bao nhiêu gia đình bị khủng bố bắt đi kinh tế mới, bao nhiêu gia đình có con em phải đi tù vì lý do chính trị, chưa kể không một gia đình nào mà không có con em là "ngụy quân ngụy quyền" bị buộc phải đi học tập cải tạo. Và suốt bao nhiêu ngày đêm, dân Saigon đều phải sống trong nổi lo âu vì sự đe doạ thường xuyên của bọn cộng sản về mặt tinh thần. Bao nhiêu cuộc kiểm tra ban đêm đã được thực hiện, bao nhiêu chiến dịch truy quét, bao nhiêu đợt tổng kiểm tra, tổng kiểm soát làm người dân lúc nào cũng sống phập phồng lo sợ. Đêm đêm đi ngủ nhưng lòng không yên vì có thể giữa đêm bị gõ cửa để rồi trong cơn ngái ngủ bị một toán dăm bảy tên công an, cán bộ phường đội tay cầm súng, tay cầm đèn pin đi vào lục lọi mọi phòng, mọi só trong nhà, gọi là để kiểm tra hành chính. Kiểm tra hành chính nhưng những con mắt soi mói của bọn chó sói chết đói đó chỉ rình rập xem có những đồ đạc giá trị gì trong nhà hay không để rồi sau đó làm khó dễ gia đình chủ nhà, đòi cái này cái nọ, nếu không biết điều thì sẽ bị kiếm chuyện. Vả lại, đó là những lần chuẩn bị cho các đợt đánh tư sản sau đó. Các cuộc kiểm tra sơ khởi như vậy cho phép bọn cộng sản "đánh giá xem chủ nhà thuộc thành phần nào”, tư sản lớn hay nhỏ, đánh giá xem tài sản của mỗi nhà thuộc "diện" nào, có bị tính trong đợt tổng kiểm tra tư sản hay không.

Ngoài ra lại còn các cuộc "bài trừ văn hoá mỹ ngụy và sách báo đồi trụy". Dưới chế độ Cộng sản thì văn hoá Tây phương được coi là một thứ thuốc phiện đầu độc tư tưởng người đọc. Và quả thật họ có lý do để sợ như vậy, vì ở các nền dân chủ phương tây, các ý tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái, nhân đạo thường được coi là thiêng liêng đối với con người. Trong khi đó ở chế độ cộng sản làm gì có tự do, dân chủ, làm sao có được bình đẳng, bác ái, nhân đạo?

Lẽ dĩ nhiên trên danh nghĩa giải phóng dân tộc, giải phóng con người thì những ý niệm đó không những được ca tụng mà còn được thổi phồng. Vì bọn cộng sản luôn luôn vổ ngực, tự cho là chỉ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mới thực sự có tự do, dân chủ, chỉ trong xã hội vô giai cấp mới thực sự có bình đẳng, bác ái và chỉ bằng cách giải phóng con người khỏi sự bóc lột mới thực sự là nhân đạo hoá xã hội. Trên lý thuyết thì xã hội chủ nghĩa là như vậy, là tự do ở
mức độ cao nhất, là độc lập triệt để, là dành cho người dân quyền làm chủ tập thể trên cả thiên nhiên lẫn xã hội.v.v. Nhưng thực tế trái ngược hẳn lại. Không có một lý thuyết nào lại có thể mâu thuẫn với thực tế hơn lý thuyết Cộng sản.
Mác và Ăng ghen (Marx và Engels) khi viết ra chủ thuyết này chắc cũng không bao giờ nghĩ được rằng những kẻ sau này đem lý thuyết của mình ra thực hiện lại có thể phản bội mình đến như thế. Vả lại, lý thuyết của Mác làm sao có thể áp dụng được?
Tôi không thể hiểu được tại sao Mác và Ăng ghen lại có thể tin được ở một xã hội vô giai cấp, một xã hội trong đó con người được bình đẳng thực sự, ai nấy như nhau, con người nào cũng như con người nào. Lý thuyết Cộng sản muốn đào tạo ra một mẫu người tuyệt vời, lý tưởng, và
ấn định cho xã hội loại mẫu người đó. Thật vô lý khi cho rằng ở xã hội cộng sản chỉ còn một
loại người cần cù, xiêng năng, ngay thẳng, đạo đức, trung thành và yêu nước, hiểu biết rộng và đượm lòng  bác ái. Nếu trong toàn xã hội ai nấy đều như vậy thì mất đi khái niệm xã hội con người.
Tôi chẳng hiểu phải định nghĩa con người thế nào cho đúng nhưng có điều tôi biết chắc là không bao giờ con người lại có thể trở thành một vị thánh, chỉ có cái tốt mà không có cái xấu. Xã hội, nếu nói là xã hội thực tiễn, không thể là cái xã hội mơ tưởng hão huyền của Mác và Ăng ghen  trong đó cái gì cũng tốt, cũng đẹp, cái gì cũng lý tưởng. Ai muốn ăn gì thì ăn vì sản xuất dư thừa, ai muốn mặc gì thì mặc vì không thiếu quần áo, muốn ở đâu thì ở vì vô số nhà cửa, ai cũng tự ý thức bổn phận của mình, cũng hăng hái làm việc và học tập, ai cũng được giải trí, trau dồi cả về mặt tinh thần lẫn thể xác. Nói khác đi ai cũng như ai, cũng đẹp cũng tốt, cũng có đầy đủ những gì mình muốn, cũng no ấm hạnh phúc. Chỉ còn một thứ người, thứ người sung sướng được sống làm người, thứ người hạnh phúc tuyệt vời trong một xã hội thần tiên. Nhưng chính vì vậy mà chỉ là giả tưởng.

Và trong một xã hội mà con người còn ít học, nhận thức chưa được chính xác đâu là ảo tưởng, đâu là thực tế, khi mà con người quằn quại đau đớn vì đói khát, cực khổ và bất công thì các lý thuyết quái đản đó dễ lôi cuốn tâm hồn người ta. Trong sự tuyệt vọng và bất mãn vì thấy mình bị dày vò, chà đạp, lợi dụng, vì thấy mình sống quá khổ cực thì ai nấy đều mơ ước một cái gì đẹp, một cái gì hay, cao quý. Bức tranh mà Mác và Ăng ghen đã vẽ ra trước mắt họ, tuy chỉ là ảo tưởng, vẫn là một cái gì an ủi, một điều mơ ước đối với họ. Và từ đó họ có thể hy sinh tất cả, có thể xả thân mình để tranh đấu cho đến ngày họ có được cái bánh vẽ đó. Nhưng họ có biết đâu là họ đã bị lừa gạt, bị lợi dụng.

Vả lại chính cha đẻ ra chủ thuyết cộng  sản cũng đã bị lừa gạt, lợi dụng. Bọn mưu đồ chính trị như Lênin và các tay tổ cộng sản khác thừa hiểu rằng làm gì có được cái thứ xã hội tuyệt vời đó, nhưng chúng vẫn làm ra vẻ hăng say tin tưởng, vẫn hô hào, kích động để ai nấy theo họ. Mục đích chính của bọn đó là làm sao nắm được chính quyền. Khi đã có quyền bính trong tay rồi thì hỡi ôi đã quá muộn đối với người dân. Lúc này có vỡ mộng thì cũng phải cắn răng mà chịu. Khi mà bọn cầm quyền thống trị bằng vũ lực, khi mà người ta công khai tuyên bố thiết lập một nền chuyên chính, dù có gọi nó là chuyên chính vô sản hay chuyên chính gì đi nữa, thì kẻ bị trị không còn đâu mà cựa quậy. Vì mới ngo ngoe đã là nhà tù, mới có ý tưởng đã là có tội và bị trừng phạt gay gắt, thì ai nấy đều bị đe dọa từ đầu, làm gì còn ai dám đấu tranh, lên án?

Và như vậy thì sách báo phương Tây, dù là sách học hay sách văn chương, dù là giáo dục hay giải trí, dù là phổ biến văn hóa hay văn minh thì cũng đều bị lên án, đều bị coi là loại sách đầu độc, có tác dụng tai hại cho nền văn hóa xã hội chủ nghĩa. Các sách đó dù có giá trị hay không đều phải hủy bỏ, phải thủ tiêu, phải đem đi đốt hay đem đi làm giấy vụn. Chúng tôi đã phải sống cái cảnh nhà nhà đem lén sách quí ra sau nổi lửa đốt vì sợ bị kết tội là tàng trữ những sách báo phản động. Những sách nào tương đối vô hại như sách học thì phải đem đi nộp cho bọn "văn hóa giáo dục" ở địa phương, hoặc đem bán kilo cho ve chai làm giấy vụn. Hàng bao nhiêu trăm ngàn tấn sách quí như vậy đã bị đem đốt hoặc đem ra làm bột giấy, làm nguyên liệu cho các nhà máy giấy đang thiếu vật liệu để sản xuất. Chỉ nghe các loa phóng thanh rao truyền tin đi kiểm soát sách báo đồi trụy và phản động, xem các báo chí đăng tải quyết định của bọn "thông tin văn hóa" tổng kiểm soát các loại sách báo Mỹ ngụy là ai nấy cũng nơm nớp lo âu.
Việc thủ tiêu các sách cũ không phải là một chuyện dễ và không nguy hiểm. Vì nếu có một số lượng sách lớn thì làm sao mà đốt cho hết được. Vả lại đốt là đốt lén, không dám để cho hàng xóm biết vì sợ bị tố cáo. Nếu chẳng may mà bọn chó săn nó biết, nó đến điều tra thì rắc rối to. Chủ nhà có thể bị kết án là tàng trữ các sách báo của chế độ cũ, là toan tính phổ biến hay duy trì các tư tưởng phản động, là có mưu đồ làm chính trị, tuyên truyền cho những chủ nghĩa tư bản v...v... Ôi thì muốn kết tội gì mà chẳng được, nhất là khi nhà bị kiểm soát lại là nạn nhân của một mối tư thù.

Bao nhiêu bon cán bộ tham gia chiến dịch đã lợi dụng để làm tiền, để đe dọa, để tịch thu các sách quí của các gia đình. Nhiều tên cán bộ ngu dốt cứ thấy sách tiếng ngoại quốc là tịch thu, bất kể đó là sách khoa học kỹ thuật hay là tự điển, là tiểu thuyết hay là sách học. Trên nguyên tắc thì chiến dịch chỉ bài trừ các sách phổ biến tư tưởng phản động hay đồi trụy. Như vậy thì các loại sách giáo dục, khoa học kỹ thuật, các tự điển không bị tịch thu. Nhưng bọn mọi vô học có hiểu gì đâu? có   biết phân biệt sách nào với sách nào đâu? Do vậy chúng tịch thu hết. Không những tịch thu mà còn "giáo dục, cảnh cáo" hay đe dọa này kia. Các gia đình cũng đâu dám phản ứng. Vả lại nếu có phản ứng thì cũng chẳng có kết quả. Bọn cán bộ bảo muốn khiếu nại thì hôm sau lên văn phòng thông tin văn hóa làm đơn khiếu nại. Lên văn phòng khiếu nại, bọn này bảo nộp đơn đưa lên cấp quận "cứu xét". Cấp quận bảo đưa lên cấp thành. Vì chán nản, chẳng ai buồn theo dõi nữa. Vả lại làm sao mà còn có thể tìm lại được sách của mình trong kho sách bị tịch thu? Nếu chỉ chậm vài ngày thì số sách đã bị chuyển lên quận, quận lên thành và thành đưa về nhà máy làm giấy. Chỉ có một cách để không mất sách của mình là đem giấu hoặc thương lượng với bọn cán bộ đi kiểm tra.

Trong các chiến dịch kiểm soát sách báo như vậy có một loại sách được các bọn cán bộ ưa tịch thu nhất là các sách truyện chưởng và các tiểu thuyết Saigon cũ. Từ những tên cán bộ lớn đến nhỏ, từ cán bộ bố đến cán bộ con, bọn này miệng thì lên án sách báo đồi trụy, mê tín, dị đoan đầu độc tư tưởng nhưng mắt thì hay háy muốn đọc, tay thì muốn chiếm đoạt về làm của riêng. Không một tên cán bộ nào, đực cũng như cái, mà lại không mê đọc sách ngụy. Đây là một trong vô số những cái giả dối của xã hội cộng sản. Miệng thì nói một đằng, tay và đầu thì làm và nghĩ một nẻo.
Tuy nhiên sau vài ngày phát động cái phong trào quái đản đó thì bọn cán bộ ở thành ủy đã ra lệnh ngưng vì có nhiều sự lạm dụng của bọn cán bộ thông tin văn hóa ở địa phương và có những sự "phản ảnh" không tốt của các giới trong thành phố, nhất là giới trí thức.

Hồi đó bọn cộng sản còn ve vãn trí thức, bày vẽ ra cái gọi là hội trí thức yêu nước là nơi tụ tập của hai loại người, một là loại trí thức "ba mươi tháng tư" những tên bồi rẻ tiền muốn tỏ ra hăng say làm việc cho "cách mạng" để mong được ban cho ít mưa móc. Rất tiếc là trong số này lại có một số khá nhiều những nhà đại khoa bảng, những giáo sư đại học, những người trí thức đàn anh. Đáng tiếc hơn nữa là họ lại tán tận lương tâm, cố ý lên tiếng ca tụng chế độ hay viết báo tán dương những cái thối tha của bọn cộng sản. Tôi không hiểu họ cần cái gì mà phải làm như thế? Danh vọng ư? Làm gì còn danh vọng vì có khi nào bọn cộng sản lại tin tưởng vào họ mà ban cho họ địa vị. Vả lại làm sao có được danh vọng khi mà dân chúng ai nấy đều phỉ nhổ vào mặt, đều lên án, chê ghét vì họ đã phản bội lại những giá trị tinh thần căn bản của con người, phản bội lại lý tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng bác ái. Tiền bạc ư? Trong cái xã hội cộng sản thì làm gì có sự trả ơn bằng vật chất, làm gì có sự thưởng tiền bạc. Có chăng là ba cái vật chất tầm thường như một vài ký đường, đôi ba hộp sữa, một hai cân thịt. Mà người trí thức nào lại cần đến những thứ đó để phải bán rẻ uy tín của mình, bán rẻ lương tâm?
Loại thứ hai thường đến lai vãng cái hội trí thức đó là giới trí thức trẻ. Họ một phần muốn có nơi sinh hoat gặp gỡ nhau, phần khác vì sợ. Phải, họ sợ nếu không đến sinh hoạt  thì họ không được coi là những thành phần tốt, những thành phần trí thức đã thức tỉnh với cách mạng. Vì muốn yên thân mà họ đến nơi đó. Nhiều người đến cho có lệ và cũng có người đến đó vì vài quyền lợi vật chất nhỏ nhoi nào đó. Chẳng hạn, nếu thất nghiệp thì hội tìm cách giới thiệu cho
có công việc làm. Nếu "đói" thì hội giúp cho dăn ba ký lô gạo. Nếu đời sống vật chất gặp khó
khăn vì giá cả ngoài thị trường tự do lên quá cao thì hội mở hợp tác xã bán cho trí thức rau cải, trứng muối, cá khô hay xì dầu nước mắm.

Và người trí thức tay sách nách mang ba cái gạo muối, nước mắm, đường tán hay cá khô đã quên đi mình là trí thức, quên đi những nhiệm vụ chính yếu của mình. Trong cái cảnh thiếu thốn vật chất ấy, con người trở nên tầm thường, không còn là mình nữa. Những ý tưởng cao cả, những suy tư lớn không còn trong tâm tư con người khi mà hàng ngày, ai cũng như ai, phải lo cho cái bao tử, phải nghĩ đến miếng ăn cái mặc.
Bọn cộng sản đã thâm độc như vậy đó. Khi đưa các trí thức vào cái vòng tầm thường ấy, chúng đã làm nhụt đi cái ý chí của con người, làm mất đi cái tự hào của trí thức. Hành động tranh giành một vài quyền lợi vật chất nhỏ nhoi đã làm cho người trí thức trở nên một con người đầy bản năng, mộc mạc và đôi khi thô lỗ. Còn đâu cái lớp văn hoa cao đẹp phủ trên người họ, còn đâu công lao của bao năm miệt mài học tập, suy tư và hoạt động?

Nhưng trong những ngày đen tối của đất nước cái hội đó cũng trở nên một nơi tốt cho anh em trí thức cũ gặp gỡ nhau. Nói trí thức "cũ" là nói vậy thôi chứ làm gì có trí thức "mới" để làm đối tượng cho "cũ". Trong số bạo quân bạo quyền xâm lấn miền Nam đâu có được bao nhiêu tên có học thức, có hiểu biết, và có nhân cách? "Trí thức" miền Bắc, kể cả bọn đã đi du học tại Liên Xô vĩ đại hay các nước xã hôi chủ nghĩa đàn anh, có bao nhiêu người thực sự là trí thức? Thật là một lũ ngu xuẫn, vô học, vô tài, bất tướng. Và cái nhục nhã của dân miền nam là ở chỗ đó, là phải chịu đựng sự thống trị của bọn mọi, ngu dốt nhưng lại tự cao tự đại, thích nói phét và độc tài phong kiến. Thà rằng mình thua kém mà mình phải phục tùng, đằng này mình hơn đứt mà phải chịu cái cảnh lấy súng đè người, lấy lưỡi lê kề sát nách mà bắt nạt.

Từ đấy thấy được cái tính chất vô lý của sự xụp đổ của miền Nam tự do. Đó là một sự vô lý trong trăm ngàn cái vô lý của xã hội tự do, xã hội bị gán cho danh xưng xã hội tư bản. Vì làm sao giải thích được sự xụp đổ quá nhanh chóng của một chế độ đã suốt hai mươi năm là tiền đồn vững chắc chống cộng? Làm sao giải thích được sự băng hoại của một tổ chức vững chãi và kiên quyết như quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Những cuộc tháo chạy khỏi Ban Mê Thuột, rồi dần dần là những cuộc rút quân vì chiến thuật khỏi cao nguyên Trung Phần, kéo theo những sự tan rã hàng ngũ hỗn độn và náo loạn khỏi những căn cứ ở miền Trung vốn là tiền đồn biên giới, mang những điều bí ẩn mà sau này, chỉ sau này lịch sử mới giải thích được.

Lẽ dĩ nhiên ai cũng cho rằng sự xụp đổ của miền Nam tự do là do sự ngưng ủng hộ của Hoa Kỳ. Tôi không phải là một nhà quân sự để thấu hiểu tình hình quân sự lúc ấy và cán cân lực lượng giữa đôi bên, giữa ta và địch, như thế nào nhưng tôi vẫn tin chắc rằng nếu mà hồi đó Hoa Kỳ còn ủng hộ chúng ta, như vẫn từng ủng hộ, thì không thể nào chúng tôi thất bại trong cuộc chiến chống cộng sản. Tôi vẫn tin tưởng rằng quân lực ta đủ can đảm, đủ kinh nghiệm và đủ sự quyết tâm, do lòng yêu nước và thù ghét cộng sản nung nấu, có thể đánh tan được bất cứ một cuộc xâm lấn nào của cộng sản lúc đó.
Tôi không tin ở sự phản bội của Quân đội chúng tôi, không tin ở sự hèn nhát hay yếu đuối của người lính Việt Nam Cộng Hòa đã từng can đảm và kiên trì chiến đấu bảo vệ tự do, bảo vệ quê hương suốt bao nhiêu năm dài trong quá khứ.
Do vậy mà tôi thật buồn khi thấy sự xụp đổ của chính thể tự do ở nước tôi là do một lý do chủ quan và ngoại tại. Vì quyền lợi của các cường quốc lúc ấy mà nhân dân tôi phải hy sinh, phải chịu đầu hàng cộng sản vô điều kiện, phải cay đắng bỏ súng và chịu một sự thất bại chua cay
và đau lòng. Vì nước chúng tôi là một quốc gia nhược tiểu, không có quyền quyết định cho
chính vận mạng của mình, nên phải chịu một sự sắp đặt ngoài ý muốn của nước ngoài. Hoa Kỳ, đã vì các quyền lợi vị kỷ, bỏ rơi chúng tôi để được một sự đền bù nơi Trung Quốc. Mà chắc gì có được sự đền bù? hay là chỉ là một canh bạc bịp mà kẻ lưu manh hưởng lợi là cộng sản? Người đàn anh gần gũi nhất trong mỗi phe đã được hưởng cái gì trong sự dàn xếp gọi là để mang lại một giải pháp hoà bình cho một nước Việt Nam sâu xé bởi chiến tranh? Hay là họ cũng đã bị lừa gạt chua cay vì quá tin tưởng vào một ảo vọng?
Tôi đã cho rằng Hội Trí thức "yêu nước" mà bọn Cộng sản đã dựng nên ở Saigon có thể là một cái lợi cho chúng tôi, vì đó là nơi kết tụ những thành phần trí thức cũ của miền Nam. Nó có thể là một môi trường gặp gỡ tốt cho những người còn chút suy tư áy náy, còn bất mãn và căm thù giấu kín trong đáy lòng. Nơi đây họ gặp gỡ và nương tựa vào nhau, nơi đây họ có thể nói cho nhau nghe những ý nghĩ của họ, không phải công khai, tất nhiên là thế, nhưng kín đáo trao đổi các tư tưởng của mình với những người thân, những người cùng một giòng suy tư, những người có cùng một tâm tư chí hướng.
Không phải tất cả những ai đến đấy đều là những kẻ ủng hộ cộng sản. Không phải họ đến đấy để nói lên sự hứng khởi khi được sống dưới chế độ độc tài. Ngoài mặt có thể là như vậy. Có thể họ đến đấy để dự vào các buổi học tập chính trị, các buổi thảo luận về mọi vấn đề liên quan đến cái "xã hội chủ nghĩa". Có thể họ phải phát biểu ý kiến và phải nương theo chiều gió mà nói. Nhưng trong thâm tâm họ, hay ít ra trong thâm tâm đa số, họ cũng thù ghét cộng sản như mọi người dân khác ở Miền Nam, họ cũng oán hận những biện pháp mà bọn cộng sản đã áp dụng để đàn áp và ức chế người dân ở trên mảnh đất quê hương thương yêu của họ. Họ cũng như ai, cũng bất mãn, cũng uất ức, cũng ao ước một ngày nào quê hương được giải phóng, giải phóng thực sự khỏi sự cưỡng chế của cộng sản. Họ cũng là những người tha thiết với quê hương với dân tộc, cũng đang đau khổ về sự thống trị của bọn độc tài. Họ cũng muốn vùng lên đấu tranh để chặt bỏ những xiềng xích đang trói buộc họ. Họ cũng đang ao ước tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình.

Tôi nghĩ chẳng ai sống dưới chế độ cộng sản thực tâm ủng hộ cái chế độ phản dân phản nước này, ngoại trừ thiểu số giai cấp mới, giai cấp đang nắm quyền hành trong tay và đang hưởng lợi lộc do chế độ mang tới. Chỉ có cái giai cấp "mới" này là cuồng tín, là say mê, là sẵn sàng hy sinh tính mạng mình để bảo vệ chế độ, như họ đã hy sinh tất cả để giành đựơc chính quyền. Chỉ có họ có những gì để mất khi chế độ này xụp đổ. Còn những người khác, đại đa số quần chúng, kể cả những cán bộ và nhân viên thuộc quyền của chế độ cũng chẳng có gì để mất cả nếu chế độ tan biến. Có chăng để mất là xiềng xích đang chói buộc họ, những cùm đang đè lên cổ họ mà thôi.

Vì cộng sản cai trị bằng gian ác và tàn bạo, bằng khủng bố và trả thù, bằng tù tội và giết chóc thủ tiêu, nên ai cũng phải tuân theo để bảo vệ tính mạng mình. Không thể trách những người đó thiếu can đảm, không dám đứng lên kháng lại vì một bên là vũ khí và bạo lực và một bên là hai bàn tay trắng. Lý lẽ của kẻ mạnh lúc nào chẳng là lý lẽ thắng cuộc? Ai dám đưa ngực ra cho đạn ghim vào tim, nhất là khi sự hy sinh đó vô ích vô nghĩa. Trong một xã hội bưng bít và giả dối, mọi sự hy sinh đều bị bưng kín hay bôi nhọ. Bọn cộng sản đủ mưu lược để tuyên truyền ngược lại và gán cho sự hy sinh vì lý tưởng cao cả của con người ý nghĩa của một sự phản bội tổ quốc, một sự nô lệ đế quốc, một mưu đồ chính trị do đế quốc giật dây.



Như vậy chiều hôm ấy chúng tôi thực sự được sống một buổi chiều thoải mái, xa Saigon; không phải xa về không gian nhưng là xa cách về tâm hồn. Chúng tôi có cảm giác như sống ở một nơi đâu, yên bình và hạnh phúc, sống bên thiên nhiên vốn hiền hậu, sống trong quang cảnh đẹp của miền Nam muôn thủa.
Chúng tôi chỉ còn gắn liền với thực tại về đề tài đem ra thảo luận vào chiều hôm ấy. Trong hứng thú của bữa tiệc rượu, chúng tôi lúc đầu tính chuyện làm ăn để sinh sống tạm thời cho qua ngày. Người học trò cũ đã kể lại cho chúng tôi nghe rằng ở đây có nhiều người xin được phép chính quyền địa phương để đi buôn liên tỉnh. Đi buôn, nhưng trên danh nghĩa là ký hợp đồng với thương nghiệp để cung cấp một số mặt hàng mà địa phương cần. Khi có hợp đồng làm ăn "hai chiều" như vậy rồi thì sẽ được cấp giấy phép để đi mua hàng ở các tỉnh đem về địa phương cung cấp cho nhà nước. Cung cấp một phần, còn một phần có thể thỏa thuận với cán bộ thương nghiệp và hành chính địa phương đem ra bán ở thị trường tự do bên ngoài.
Chủ đích của hợp đồng không phải là để cung cấp hàng hóa cho thương nghiệp vì thương nghiệp cũng không cần có hàng. Thương nghiệp nếu có hàng thì bán cho dân mà không thì
thôi, xã hội chủ nghĩa là như thế. Người dân cũng không mong sống nhờ vào những gì thương nghiệp cung cấp cho với giá "chính thức" vì nếu thì chết đói. Lý thuyết là nhà nước quản lý sản xuất và quản lý phân phối, đảm bảo về mặt đời sống cho người dân. Nhưng đấy chỉ là lý thuyết. Thực tế thì thương nghiệp chỉ là bình phong che đậy sự làm ăn bất chính của cán bộ địa phương, lợi dụng và bóc lột người dân.
Chúng tôi dự định xin ký hợp đồng cung cấp cá khô và nước mắm. Vì chỉ bằng cách đó chúng tôi mới hy vọng có được giấy phép đi Rạch Giá hay Phú Quốc. Mưu đồ của chúng tôi là làm sao đi đến được các tỉnh ven biển miền cực Nam để có cơ hội thăm dò đường đi nước bước, chuẩn bị cho một sự ra đi sau này.

Men rượu giúp cho câu chuyện thêm hăng say. Lắm ý kiến được đề nghị. Trong sự lâng lâng say, ai nấy đều tưởng mình sáng suốt, đều có lắm kế hoạch, lắm sáng kiến. Dần dần câu chuyện đã lan sang đến vấn đề chuẩn bị vượt biên. Chúng tôi bàn đến vấn đề phải biến cải con ghe thế nào để có thể vượt biển cả, phải đóng thêm đà ngang làm sao, sửa lại mũi ghe làm sao cho có thể chẻ được sóng, trang bị thêm cái gì, máy phụ, máy bơm nước, địa bàn, hải đồ, đèn pha vân vân và vân vân... Phải dò xét đường thoát ra biển làm sao, phải cử ai đi theo ghe, sống theo ghe để nghiên cứu kế hoạch thoát ra biển cả mà không bị bắt...
Trong nhóm bốn người chúng tôi chỉ có Biên và tôi là rảnh rổi không có việc làm, đang cố ý "thất nghiệp". Thất nghiệp cố ý vì chúng tôi đã xin nghỉ, không chịu đi làm. Chúng tôi được đề nghị trực tiếp đứng ra theo dõi hoạt động của con ghe và ký hợp đồng với thương nghiệp địa phương.  Một người em họ của Hạnh tên Xã nhận đứng ra xin giấy phép di chuyển và lo về kỹ thuật, chuẩn bị cho ghe có đủ điều kiện cần thiết để có thể chịu đựng cuộc hành trình vượt biển trong tương lai.
Sau đó chúng tôi bàn đến vấn đề bỏ tiền ra để trang bị thêm cho ghe và gây vốn cho cuộc đi buôn. Phải tốn một ngàn đồng ( năm chục ngàn tiền cũ) mới có được bản hợp đồng ký kết với thương nghiệp và tờ giấy phép. Phải có khoảng hai ngàn đồng để mua một máy bơm, một máy đuôi tôm, làm giàn đà và mái tôn cho ghe. Sau hết, cần ít nhất ba ngàn đồng để làm vốn đi buôn.

Theo sự tính toán của Hạnh thì mỗi chuyến đi buôn mất từ bốn đến bẩy ngày, tùy theo trường hợp ghé các tỉnh trên đường đi nhiều hay ít, vì chúng tôi còn dự tính đem hàng từ tỉnh này sang tỉnh kia bán, và một kỳ đi như vậy tiền lời từ một ngàn đến một ngàn rưởi. Thật là thần tiên vì làm gì chúng tôi có thể kiếm được một món tiền lời lớn như vậy nếu không bằng cách đi buôn. Đi làm cho nhà nước suốt tháng mới được sáu mươi lăm đồng bạc. Do vậy chúng tôi ai nấy đều náo nức muốn thực hiện kế hoach này liền nhưng lúc phải kêu vốn, ai phải góp tiền và góp bao nhiêu thì lại là cả một vấn đề. Biên quyết định chuẩn bị cho ghe trước tiên. Anh sẽ lo bỏ hai ngàn đồng để trang bị và tân trang ghe. Anh sẽ cùng với Hạnh lo chu toàn ghe trong vòng nửa tháng. Sau đó là việc lo ký hợp đồng và giấy phép, cũng phải mất khoảng hai tuần và sau khi có giấy rồi mới phải chồng tiền. Việc bỏ vốn đi buôn phần Huyên và tôi. Tôi trù tính sẽ bán chiếc xì cút tơ của tôi làm vốn góp phần vào "đại cuộc". Huyên có một chiếc Vét pa cũng sẽ bán đi để có tiền. Chúng tôi bàn tính sẽ cùng thanh toán một lúc để cùng có tiền làm ăn.
Và như thế thì khi bữa tiệc rượu tan, chúng tôi đã say mèm, vừa say vì rượu nồng, vừa say vì men chiến thắng. Chúng tôi đã coi đó như là một sự chiến thắng định mệnh, chiến thắng thời cuộc, một sự mở rộng cửa cho tương lai chói lọi. Biên kết thúc cuộc bàn luận bằng một câu mà ai nấy trong chúng tôi đều đồng ý. Nếu không thực hiện được kế hoạch vượt biên thì ít ra đây cũng là bước mở đường cho sự làm ăn, mang lại lợi tức đủ để cho gia đình chúng tôi tạm thời sinh sống qua ngày, chờ lúc có thể đem việc lớn ra thi hành.
Thế rồi cả bọn chúng tôi đã đi ngủ trong sự hân hoan của một buổi chiều vừa được ăn, vừa đạt
được một kết quả bất ngờ, ngoài dự tính trước của chúng tôi.

Nhưng sự hân hoan đó không kéo dài được lâu vì nó căn cứ ở trên một quyết định thiếu chín chắn, thiếu đắn đo suy nghĩ. Trong một lúc hứng thú, say mê chúng tôi đã chỉ nhìn khía cạnh tốt đẹp của vấn đề, nhìn phần tích cực mà không để ý cái dở, cái thiếu sót, cái tiêu cực. Những yếu tố chúng tôi đem ra cứu xét không phải là vô căn cứ hay mơ hồ. Không phải chúng tôi đã
bàn luận xuông, không căn cứ trên thực tế, không phải kế hoạch của chúng tôi là vô lý hoặc quá xa vời thực tế. Không, chúng tôi đã suy nghĩ đúng, đã thực tế, nhưng nó không thưc tiễn vì khi bàn luận thì chúng tôi đã thiếu sót không bàn đến yếu tố nhân lực mà chỉ bàn đến yếu tố vật lực.
Ngay từ lúc đầu tôi đã tỏ ra dè dặt và khuyên các bạn tôi hãy từ từ, tính cho kỹ đã trước khi thỏa thuận. Trong công cuộc mưu tính này, có yếu tố an ninh. Vì chúng tôi có thể bị bắt, bị kết tội là tổ chức vượt biên, là chạy theo chân đế quốc, là phản động. Có thể chúng tôi chưa làm được gì cả là đã bị chặn đứng. Cát Lái là nơi đã có nhiều vụ tổ chức vượt biên. Rất nhiều người đã bị bắt khi toan tính trốn đi. Bao nhiêu cuộc tổ chức ở đây đã bị đổ bể. Vả lại khi sáng, ngay lúc chúng tôi bốn năm người lạ mặt đổ xuống Cát Lái vào nhà cậu học trò để ăn nhậu thì đã bao nhiêu cặp mắt tò mò rình chúng tôi? Có thể ngay lúc chúng tôi bàn tính thì công an cũng đã hay biết mưu đồ của chúng tôi rồi. Có thể chúng tôi sẽ bị theo dõi nếu còn tiếp tục xuống đây.
Nhưng các bạn tôi đã an tâm tôi, nói rằng chúng tôi có cớ để xuống đây, chúng tôi tính làm ăn, và kế hoạch ra đi được che đậy bằng một hợp đồng cung cấp hàng cho thương nghiệp. Họ đã cười cho rằng tôi quá cẩn thận, đã nhát gan và nói rằng muốn tính chuyện thì phải gan, phải liều. Tôi đã bị chạm tự ái. Không phải tôi sợ bị bắt vì lúc ấy tôi chưa ý thức được cái khổ sở của kẻ bị tù. Nhưng tôi e rằng chúng tôi chưa làm được gì thì đã bị chặn, vừa mang họa vào thân, vừa uổng công, uổng tiền. Tôi tính kỹ hơn, cẩn thận hơn, cân nhắc hơn trước khi hành động. Sau này lúc hỏng rồi thì anh em mới đồng ý là tôi có lý. Tôi thương hai vợ chồng Biên là người đã bỏ vốn đầu tiên ra và bị mất hai ngàn đồng chắt chiu. Họ đã phải bán cả quạt máy, bàn, salon và nhiều vật dụng trong nhà mới đủ số tiền ấy. Biên đã phải khổ công đi lên đi xuống, suốt ngày chạy rông ngoài đường mua cái này, chọn cái kia. Đêm  về anh còn phải vắt tay lên trán suy nghĩ xem còn phải làm gì thêm, tính toán ra sao, vân vân và vân vân.

Cứ độ vài ngày chúng tôi lại họp nhau lại để nghe Biên và Hạnh cho chúng tôi hay đã làm được những gì rồi, đã chuẩn bị được đến đâu, bao giờ thì xong, hợp đồng đã đến đâu, bao giờ có giấy phép, bao giờ thực hiện chuyến đi đầu tiên. Và mỗi lần như vậy là lại có ăn uống, có rượu. Chúng tôi sống trong sự tin tưởng một ngày mai tươi sáng hơn, hy vọng tràn trề rằng kế hoạch sẽ đưa đến thành công.
Biên còn cho chúng tôi biết quê vợ anh ở Long Xuyên và anh có nhiều bà con bên vợ ở Rạch Giá. Anh đã chuẩn bị liên lạc với gia đình dưới ấy để nghiên cứu đường đi nước bước, chờ đến khi thuận lợi chúng tôi sẽ vượt biên. Chúng tôi ai nấy nghe thuyết trình mà hân hoan, phấn khởi. Ai cũng vẽ ra trong đầu  bức tranh của cuộc ra đi, tuy phiêu lưu nguy hiểm, nhưng là con đường duy nhất cứu được gia đình mình.
Chúng tôi tính toán kỹ lưỡng đủ mọi khiá cạnh. Năm gia đình tất cả khoảng ba mươi người, phải mua bao nhiêu lít dầu, chuẩn bị những gì mang theo, lương thực và nước uống như thế
nào, đi đứng, "đổ quân", "bốc hàng" ra sao. Ai xuống Long Xuyên liên lạc thăm dò, vân vân và vân vân. Ôi thì đủ mọi vấn đề, không thiếu điều gì.
Rồi chúng tôi bàn đến các cuộc ra đi thất bại của các bạn bè để rút kinh nghiệm. Các người ra
đi thành công, đi được khỏi đất nước này rồi, thì đâu còn gặp lại để mà họ kể cho nghe kinh nghiệm của họ? Có chăng là vài điều dặn dò nhắn qua thơ về cho bạn bè mà chúng tôi được nghe lỏm, nghe kể lại như là những tin đồn truyền miệng từ tai này đến tai kia, từ người này đến người kia. Nhiều khi chẳng qua chỉ là những điều dựng đứng, bịa đặt của vài anh khùng muốn tỏ ra là mình biết nhiều, biết rộng nên đã tưởng tượng ra như thế rồi nói lại cho bạn bè nghe.

Đến ngày khởi hành đi buôn thì hợp đồng ký và giấy phép xin được chỉ cho phép đi đến Vĩnh Long. Nhưng chúng tôi coi đó là bước đầu, chúng tôi chấp nhận đi Vĩnh Long mua hàng về cung cấp cho địa phương để lấy uy tín và cảm tình của cán bộ. Biên nghĩ vài lần đi như vậy, khi đã làm ăn trôi chảy thì sẽ có được giấy phép đi Long Xuyên, Bạc Liêu, Rạch Giá v...v...
Và chuyến đi buôn đầu tiên được thực hiện. Hôm ấy tôi đau nên không tham dự. Chỉ có Biên, Hạnh và Xã lên đường. Huyên và tôi ở Saigon hồi hộp chờ tin Biên trở về để xem lần đi đầu tiên có thu hoạch được kết quả khả quan hay không.
Thế rồi cái gì phải đến đã đến. Bốn ngày sau, Biên hớt hãi trở về bằng xe đò từ Mỹ Tho. Anh cho chúng tôi hay là ghe khi ghé vào chợ Mỹ Tho để tính bán một số hàng và mua một số hàng khác đem về Cát Lái thì bị bắt giữ, giấy phép bị tịch thu và anh phải về Saigon lấy tiền đem xuống thương lượng với bọn du kích thả ghe ra và trả lại giấy tờ.
Huyên và tôi thắc mắc tại sao có giấy tờ hợp pháp, có hợp đồng của thương nghiệp mà lại bị chặn bắt, thì Biên nói chẳng hiểu được tại sao. Có một điều là chúng tôi không thể cãi lý với du kích địa phương được. Chỉ có một cách duy nhất là chạy tiền. Vài ba trăm đồng đưa cho nó là xong ngay. Nhưng tiền lỡ mua hàng rồi không còn và nó đòi năm trăm, có thương lượng ít ra cũng phải ba trăm, do đó nó cứ giữ ghe lại để điều tra xem giấy tờ thiệt hay giả.
Hôm sau Biên trở xuống Mỹ Tho thì ghe đã được thả đêm hôm trước và đang trên đường trở về Cát Lái. Anh về Saigon mệt lả, tính hôm sau đi Cát Lái. Hôm sau khi xuống đến Cát Lái thì hàng đã dỡ hết, đã bán xong hoặc giao cho thương nghiệp. Hỏi tại sao không chờ anh xuống thì hai đứa kia nói đã trễ hạn phải giao cho thương nghiệp ngay và hàng tính bán ở Mỹ Tho thì đã thanh toán lỗ ở Long Thành vì một phần trái cây đã bị hư. Hạnh nói chuyến đi đó không có lời nếu không muốn nói là lỗ chút ít vì tiền ăn tiêu trên ghe suốt mấy ngày đi và tiền xăng dầu. May mà ghe được tha không phải đút lót cho du kích .

Đối với chúng tôi đây là một thất bại chua cay. Chuyến đi này đưa chúng tôi về với thực tế, với những khó khăn mà chúng tôi đã không dè, không tính trước được vì không có kinh nghiệm. Sự thất bại đó cũng làm nhụt chí chúng tôi rất nhiều. Nghe Biên kể lại sự thể, Huyên và tôi buồn ra mặt. Thật là thảm não.
Chúng tôi làm sao giải thích cho các bà vợ bây giờ? Lúc đang chuẩn bị thì các bà đã không nhiệt tình hưởng ứng vì biết rằng chúng tôi không thuộc giới đi buôn, không biết gì ngoài việc cầm phấn, cầm sách giảng dạy cho học sinh. Không ai tin rằng chúng tôi có thể làm được nên chuyện. Nhìn chúng tôi tính số lời, các đôi mắt ấy có vẻ ghi ngờ. Để thuyết phục họ, chúng tôi đã nói "Rồi em xem, chúng mình sẽ bớt vất vả".
Nhưng đối với họ thà vất vả mà chắc ăn, còn hơn là mất một số tiền lớn khi tiền khó kiếm, vợ chồng con cái đang phải nhịn ăn nhịn mặc, phải chịu khổ chịu cực. Quả thật chúng tôi không có đầu óc con buôn. Trời không sinh chúng tôi ra để làm thương mại nên không biết cách tính lời, tính lỗ.

Nhất là vợ tôi, nàng không muốn tôi làm một công việc mà nàng biết chắc tôi không thể làm được. Nhưng nàng cũng đã miển cưỡng đồng ý và bên ngoài vẫn tươi cười, tươi cười ngay cả khi tôi lắp bắp báo rằng chuyến đi buôn đầu tiên đã thất bại. Sau hy vọng chàn chề là thất vọng chua cay. Vì thương tôi nàng an ủi "May mà không lỗ vốn nhiều! Anh đừng có buồn làm gì! Có làm có chịu".
Từ lúc đấy trở đi chúng tôi thấy rõ rằng sẽ chẳng làm được gì nữa vì chúng tôi đâu biết buôn bán. Đâu phải buôn là dễ. Nếu kiếm tiền lời ngon lành như chúng tôi tưởng thì ai chẳng đi buôn. Còn ai làm nghề khác?

Tính chuyện đi buôn chưa xong thì tính chuyện vượt biên còn trăm lần khó hơn. Không khéo lại đưa cả vợ con vào tù, rồi mất nhà mất cửa, mất tiền chạy cho ra khỏi tù. Không phải người ta làm được mà mình làm  được. Đó là ý nghĩ của tôi vào lúc đó. Tôi nghĩ như vậy mà đâu dám nói ra. Một phần vì lỡ dấn thân vào rồi, một phần vì sợ các bạn chê là chủ bại, mới thua một trận đã nhụt chí, hết muốn tranh đấu. Làm sao có được thành công nếu không có thất bại sơ khởi? Có thất bại mới rút kinh nghiệm đi đến thành công, mới biết nhận định, tính sai tính thiệt. Nhưng sau này tôi biết rằng không phải chỉ riêng tôi đã thất vọng mà các bạn tôi cũng vậy nhưng chẳng ai dám nói ra. Sự thất bại đầu tiên đó làm cho chúng tôi suy nghĩ lại  và chúng tôi bổng nhiên nhận thức được rằng chúng tôi đã thiếu suy xét, đã bồng bột quyết định.

Riêng tôi viển tưởng của một sự thất bại trong công cuộc toan tính trốn khỏi nước bắt đầu ám ảnh đầu óc tôi. Tôi không còn tin rằng chúng tôi có thể thực hiện được giấc mơ chúng tôi ao ước. Và trong đầu tôi hiện ra bao nhiêu hình ảnh làm cho tôi lo âu, nhiều đêm mất ngủ. Trong
những giấc ngủ thiếu yên bình tôi đã có những cơn ác mộng. Tôi đã mơ thấy tôi bị bắt, tôi lênh đênh ở trên biển cả mênh mông một mình, vợ con tôi đói khát trên con tàu trôi dạt ngoài khơi ... Tôi tỉnh dậy giữa đêm khuya, hớt hãi, kinh hoàng. Nhìn vợ tôi ngủ yên bên mình, tôi mới an tâm, mới nhận thức được cơn mê sảng. Và tôi thấy tôi còn may chưa bước chân lên chiếc ghe đó đi vượt biên cùng với gia đình. Từ đó tôi luôn bị ám ảnh, vừa muốn ra đi, vừa sợ một tai hoạ xẩy đến cho chúng tôi.

Khi Biên, Huyên và tôi tuần sau trở xuống Cát Lái để chuẩn bị chuyến đi buôn thứ hai thì không gặp Hạnh. Xã cho biết sau vụ đi lần trước, gia đình bên vợ Hạnh, nay được biết là chủ chiếc ghe, đã không cho dùng ghe đi buôn nữa. Bà mẹ vợ anh sợ lỡ bị bắt luôn thì mất ghe không còn phương tiện sinh sống. Hỏi Hạnh đâu thì Xã nói mấy ngày rồi không thấy về, chắc đi Saigon tính chuyện lời lỗ với chúng tôi. Nghe nói vậy chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa bắt đầu nghi ngờ. Chúng tôi không tin rằng chuyến đi trước lỗ mặc dù có bị kẹt ở Mỹ Tho hơn một ngày. Trừ chi phí, tiền xăng dầu, tiền thuế thì vẫn phải còn lời, mà lời nhiều, chứ không thể lỗ được. Biên nghi anh học trò cũ đã lừa thầy. Lúc ghe bị giữ lại ở Mỹ Tho, Hạnh đã bảo anh về Saigon lấy tiền, với dụng ý trong khi anh không ở đó hắn tự do bán hàng ở Mỹ Tho, mua thêm hàng đem về Long Thành bán. Đồng thời hắn giao hàng cho thương nghiệp đúng hẹn. Chỉ do vụ bị xét hỏi ở Mỹ Tho mà cả kế hoạch đã bị tính sai. Và hắn đã mưu mô ăn cướp số tiền lời.
Biên ức lắm muốn làm cho ra lẽ. Anh đề nghị chúng tôi đến nhà hắn ở ngoài cồn. Chúng tôi nhờ Xã đưa đi, và y sẵn sàng giúp chúng tôi. Chiếc xuồng nhỏ chở chúng tôi đi và khi đến nơi chúng tôi thấy chiếc Honda của Hạnh còn ngoài cửa. Biên nói như vậy là hắn không đi Saigon mà vẫn ở Cát Lái. Vào đến nhà, chúng tôi gặp vợ Hạnh đang ôm đứa con nhỏ mới hai tháng. Thấy chúng tôi người đàn bà hốt hoảng. Biên hỏi Hạnh đâu thì được cho biết hắn đã đi Saigon. Chúng tôi hỏi bây giờ Hạnh tính thế nào thì được người vợ cho biết anh ta dự tính đem bán máy móc trên ghe mà Biên đã trang bị để lấy tiền trả lại chúng tôi, nếu không đủ sẽ bán thêm chiếc Honda và kể cả nữ trang của gia đình nữa. Nghe như vậy chúng tôi tình thật cũng tin và vui vẻ ra về, chờ ngày hắn lên Saigon gặp chúng tôi tính chuyện.

Nhưng sự thật đâu phải như thế.  Sau này chúng tôi mới biết hắn đã cùng vợ và mẹ vợ toan tính lừa gạt chúng tôi từ đầu mà chúng tôi không hay. Chúng tôi về Saigon chờ đợi hơn một tuần không thấy hắn đến, trở xuống Cát Lái không gặp hắn, đến nhà vợ hắn và cả nhà mẹ vợ hắn cũng không gặp. Phải đe doạ rằng sẽ đưa nội vụ ra trước pháp luật thì gia đình hắn mới năn nỉ xin hẹn vài bữa sẽ bảo hắn đến gặp chúng tôi để tính chuyện phải trái. Chúng tôi hẹn ngày gặp nhau nhưng hôm ấy hắn cũng chẳng đến.

Rồi một buổi chiều tối thứ bẩy, Hạnh đi cùng với một người đàn ông khác tới gặp Biên. Hắn đã uống rượu và với một giọng nói lè nhè, hắn đứng ngoài cửa nhà anh Biên nói vào như trách móc: "Tôi không dè thày tính hại tôi. Có vài ngàn bạc mà thầy coi quá lớn. Từ nay giữa thày và tôi không còn tình nghĩa gì nữa. Tôi tính giúp thày mà thày đối với tôi như vậy?" Biên đã điên tiết lên và một vụ to tiếng xảy ra giữa hai thầy trò.

Khi được biết chuyện, tôi đã hiểu ngay rằng chẳng còn hy vọng gì lấy lại được số tiền mà chúng tôi đã bỏ ra đầu tư vào chiếc ghe nữa. Chưa kể bao nhiêu chi phí phải tiêu dùng khi đi lên đi xuống, chuẩn bị mọi việc, tiền chạy giấy tờ, các bữa tiệc rượu, vân vân. Thế là hỏng. Tôi biết đây là một sự thất bại rõ ràng mà nguyên do cũng chỉ vì chúng tôi quá ngây thơ, quá dễ tin và thiếu kinh nghiệm. Điều làm Bìên đau đớn nhất là bị chính người học trò cũ gạt. Trò phản Thầy! Thật là đau xót. Anh đã thật sự không ngờ.

Vài lần nữa, do sự mong muốn của Biên, chúng tôi còn trở xuống Cát Lái để tìm gặp Hạnh, đòi giải quyết cho xong nội vụ. Nhưng chẳng lần nào chúng tôi gặp được hắn cả. Cả vợ hắn cũng lánh mặt. Khi thấy chúng tôi từ xa là vợ hắn đã trốn đi nơi khác, để cho người nhà ra trả lời bâng quơ những câu hỏi mà chúng tôi đặt ra. Tuyệt vọng, Biên làm đơn tố cáo với chính quyền địa phương nhưng thứ nhất là chúng tôi chẳng có giấy tờ gì chứng minh cho sự hùn hạp làm ăn này vì lúc trước chúng tôi đã tin nhau mà cùng nhau hợp tác. Sau nữa, gia đình hắn có bà
con làm tại xã ấp nên đã tìm cách ém nhẹm nội vụ. Chúng tôi chỉ được trả lời là để rồi cho điều tra, kết quả thế nào sẽ thông báo cho chúng tôi sau. Và chẳng bao giờ chúng tôi được biết kết quả của cuộc điều tra này thế nào. Cũng chẳng bao giờ mà chúng tôi còn gặp lại tên học trò cũ phản phúc đó nữa. Chỉ nghe đồn là sau này hắn đã dựa vào chiếc ghe đó để gạt nhiều người khác bằng cách nói tổ chức vượt biên, đến mời tham gia với giá "tượng trưng” là một hay hai cây vàng tùy người và tùy hoàn cảnh. Và rồi hắn chẳng tổ chức vượt biên mà cũng  không chịu trả lại tiền hay vàng người ta chung cho hắn để "đặt chỗ".

Đối với chúng tôi sau này, không vì vậy mà chúng tôi nản chí. Chúng tôi lại tiếp tục tìm các đường giây vượt biên, tìm gặp các tổ chức ở Bà Rịa, Vũng Tàu  và hầu như tuần nào chúng tôi cũng có một hai lần gặp gỡ, bàn tính với các tay tổ chức ở địa phương.

Nhưng muốn là một việc còn làm được hay không lại là một việc khác. Không phải như câu châm ngôn nào đó của Pháp "muốn là được" mà là câu châm ngôn khác "nhân tính, thiên định". Chúng tôi vẫn không đạt được đến một kết quả nào sau hơn năm sáu tháng lặn lội đi tìm đường tự tổ chức hay ít ra là tham gia tổ chức. Sở dĩ như vậy là vì thứ nhất chúng tôi muốn chắc chắn không bị gạt, muốn tích cực trong cuộc ra đi chứ không phải thụ động lệ thuộc vào người khác. Sau nữa là vì chúng tôi không có đủ tài chính để tham gia với tư cách là "khách" trong những chuyến đi do người khác tổ chức. Tại Saigon, vào những năm ấy, tham gia vượt biên phải mất ít nhất là năm cây mỗi người, mà lỡ bị gạt hay không may bị bắt thì là mất toi.

Những năm sau vì thấy mình không có duyên số vượt biên nên tôi đã thôi không còn nuôi dưỡng ý định ra đi nữa. Hay nói cho đúng hơn, tôi phải tự đè nén tôi, không để cho tâm trí bị ràng buộc bởi ý tưởng đó mặc dù nó vẫn dằn vặt tôi, hành hạ tôi mỗi đêm hay mỗi khi buồn, mỗi khi thấy không còn hy vọng gì sống được ở mảnh đất quê hương thân yêu và nhất là khi thấy một người bạn lại ra đi theo chân những người bạn khác đã ra đi.
Đọc một lá thơ của một người bạn thân gởi từ trại tị nạn về, lòng tôi nôn nao, tim tôi như ngừng đập, phổi tôi như ngừng thở, tôi như chết lịm đi vì chán nản, vì thấy mình bất lực và bất hạnh. Tôi thèm muốn được ra đi như người thanh niên ấp ủ những giấc mơ lý tưởng của tuổi trẻ. Tôi ao ước được ra đi như người con gái gần quá tuổi lấy chồng ao ước có được một người yêu và tôi thấy tuyệt vọng, tôi thấy tôi sẽ phải chôn vùi cuộc đời tôi ở nơi bất hạnh này. Tôi không còn hy vọng gì vươn lên, không còn hy vọng làm được một việc gì tốt để cho gia đình, cho quê hương đã nuôi dưỡng hồn tôi. Tôi sẽ chết đi trong tủi nhục, trong sự đau đớn của một người đã mài công trong hàng chục năm trời mong có một ngày vinh quang, cho các con được hãnh diện về người bố, cho chính mình được hãnh diện vì đã làm được một cái gì tốt. Tôi chẳng có tham vọng gì cao xa, tôi chẳng ước mơ gì lớn. Tôi chỉ mong khi nhắm mắt, nhìn lại quãng đời đã qua, thấy mình đã cố gắng, đã đấu tranh, đã hy sinh và đã làm được một cái gì để lại cho mai sau, đã sống như một con người, đã góp phần vào việc xây dựng xã hội và không phải hổ thẹn với lương tâm, với chính mình. Tôi không mong ước được ai biết đến và đã chẳng làm được một việc gì để được biết đến. Tôi không làm chính trị và không có tham vọng chính trị nào. Tôi chỉ muốn rằng con tôi, vợ tôi được hãnh diện, các bạn bè không hối hận đã biết tôi và các học trò của tôi kính trọng tôi như tôi đã kính trọng một số thầy tôi vậy.



Ba hôm phải nằm lại Châu Đốc thật là gian khổ vì tinh thần tôi lúc nào cũng căng thẳng vì sợ hãi và+ hồi hộp chờ đợi. Bê và Xinh không cho tôi lên bờ vào ban ngày mà bắt tôi lên ở trên lầu cao của một tầu lớn đậu bên cạnh. Đây là một chiếc tầu dài khoảng hai mươi lăm thước và rộng khoảng bốn thước, máy sáu lốc (blocs). Ghe này mà đi vượt biển thì lý tưởng. Trên tàu có cả truyền hình, có phòng ngủ, phòng tắm. Mui tầu và hầm dùng để chất hàng. Tôi ở phòng chỉ huy, một căn phòng nhỏ phía sau ghe có thể nhìn ra xa phía trước dễ dàng và ngay phía dưới đó là hầm máy. Xinh đã xin chủ ghe cho tôi và cháu bé lên đó ẩn trốn. Chỉ khi chiều về, chúng tôi mới leo xuống ghe của Xinh ngồi chơi hay nói chuyện. Xinh thường xuyên lên thăm chúng tôi và mang cho tôi trái cây, chè hay cà phê đá. Chúng tôi cứ sống như vậy ngày này qua ngày
kia, trong sự sốt ruột và lo lắng không hiểu tại sao Hai Học chưa xuống Châu Đốc như lời hắn
đã hứa.

Sáng sớm ngày thứ ba, vì thấy tôi buồn quá nên Bê kêu tôi xuống và rủ tôi đi ăn sáng. Sau khi đi ăn sáng xong thay vì trở về ghe, hắn đưa tôi đi một vòng quanh chợ, rồi dẫn tôi đi xa hơn xuống mấy phố xem các thanh niên ở tuổi quân dịch bị bắt đưa đi. Hắn hỏi tôi các thanh niên đó đi đâu, tôi trả lời đi ra ngoài mặt trận. Hắn hỏi ở đâu? Tôi nói bên Kămpuchia. Hắn tỏ vẻ buồn rầu. Dường như Bê cũng đang mong Hai Học trở xuống để thực hiện chuyến đi cho rồi. Sau đó hắn đưa tôi đến một ngôi chùa Miên và bảo tôi xem bói. Ở Châu Đốc có vô số đàn bà xem bói bài và xem chỉ tay. Họ là người Miên và một số biết nói tiếng Việt.
Tôi thấy Bê ngồi xuống nói với một người bằng tiếng Miên. Rồi người đàn bà nhìn tôi chăm chú và dùng tiếng Việt hỏi tôi: "Cậu muốn biết chuyện gì?" Tôi còn đang bỡ ngỡ thì Bê lại nói một tràng tiếng Miên nữa. Người đàn bà lấy bộ bài, để trên miếng nylon nhỏ trải dưới đất, chao qua chao lại rồi bắt đầu xem cho tôi. Hôm đấy tôi được biết chuyến này tôi đi sẽ thành công, tôi sẽ đạt được ý nguyện, tôi sẽ không bị lừa. Tôi hỏi bao giờ tôi đi thì được cho hay là ngày hôm sau. Người đàn bà ấy nói trưa hôm đó người đàn ông mà chúng tôi chờ đợi, tức là Hai Học, sẽ trở xuống và cùng đi với nhiều người trong đó có một người phụ nữ? Tôi nghe vậy cũng yên bụng. Như vậy là sáng mai tôi sẽ đi ư? Thật là đỡ khổ vì sự việc Hai Học không trở xuống đúng hẹn đã làm tôi nản chí. Nếu lời người đàn bà này đúng  thì nội ngày hôm đó, y sẽ có mặt tại Châu Đốc. Tôi đã ngán chờ đợi lắm rồi. Một hai ngày nữa mà Hai Học không trở xuống thì tôi sẽ về Saigon xem sao. Tuy trong túi tôi chẳng có giấy tờ gì để đi đường hết, tôi cũng chẳng sợ. Vì thường thì bọn an ninh chỉ xét chặng đi. Còn đường về có xét cũng chỉ xét những người đi buôn, xét hàng chứ không xét người. Do vậy, tôi không có nguy cơ bị bắt trên đường trở về. Tôi muốn về một phần vì nóng ruột muốn xem Hai Học làm gì mà không trở xuống, phần khác là vì tôi bắt đầu nhận thức được rằng tôi không thể xa vợ con tôi được.

Những ngày vừa qua tôi đã liên Miên suy nghĩ về gia đình, về tương lai của chúng tôi. Tôi đã quên đi những mục đích cao cả mà tôi đã từng ấp ủ trong lòng lúc còn chưa đi được, lúc còn ở Saigon. Tôi đã quên mất rằng tôi không còn có thể chọn con đường nào khác hơn là con đường này, con đường ra đi, bỏ lại gia đình, bỏ lại bạn bè, bỏ lại quê hương. Tôi quên đi những ao ước trước đây đã dày vò tôi hàng bao nhiêu đêm, quên đi những lần tôi đã tự nhủ rằng đổi lấy cái chết để mà ra đi tôi cũng sẵn sàng. Không phải bây giờ đây, gần tới phút nguy hiểm tôi chùn chân vì sợ. Không, tôi không sợ. Vả lại tôi cũng chưa biết nguy hiểm ra thế nào để mà sợ. Tôi vẫn sẵn sàng đổi lấy cái chết để mà được tự do, được có cơ hội sống như tôi muốn, làm những gì tôi mơ ước cơ mà?
Nhưng vào lúc ấy tôi đâu còn nhận thức được như vậy? Tôi chỉ còn biết rằng tôi nhớ vợ con tôi và tôi khó có thể chịu đựng được sự xa cách. Vả lại những đêm không ngủ tôi đã tự hỏi tôi ra đi để làm gì nếu những người thân yêu của tôi không được hưởng những thành quả mà tôi gặt hái được? Thật là vô nghĩa cuộc ra đi này.
Lúc trước tôi đã nghĩ dù phải hy sinh bỏ gia đình ở lại, tôi cũng chấp nhận để được có cơ hội sau chót của cuộc đời mình, để có thể đem giấc mơ của đời mình ra thực hiện, hay ít ra để tìm lại được cho mình một cuộc sống có ý nghĩa. Vì những ngày còn phải sống ở Saigon, những ngày dài lê thê, vô vị, tôi đã sống trong buồn tủi, tôi đã sống trong uất hận một cách vô lý. Làm sao giải thích được một cuộc sống thực vật như vậy? Sống làm gì nếu chỉ là để ngày kiếm vài chục đồng bạc, đủ ăn tiêu trong ngày, rồi tối về khi men rượu tan dần mình thấy rằng cuộc đời mình hỏng, tan vỡ hết? Nếu chỉ sống như vậy, sống vô nghĩa như vậy, sống để mà sống thì thà rằng tự tử, tự tìm cho mình một lối thoát cùng cực. Chính vì vậy mà những đêm trằn trọc, tôi đã chỉ có một ý nghĩ quay cuồng trong đầu là ra đi, ra đi bằng mọi giá, ra đi để tìm cho mình được một lẽ sống, ra đi để trở lại sống như một con người.

Nhưng bây giờ thì lại khác. Bây giờ xa gia đình, xa những người thân yêu mà mình đã quen sống bên cạnh suốt bao nhiêu năm trường, nỗi cô đơn và cơn buồn đã bắt đầu gặm nhắm lòng tôi. Tôi hết còn tự chủ nổi, tôi chẳng còn nghị lực, chẳng còn ý chí. Tôi chỉ còn muốn trở về, trở về dù có phải bỏ hết ước mơ, dù có phải tiếp tục trở lại cuộc sống vô vị trước đây để sống bên
gia đình. Tôi chấp nhận sự thủ phận, tôi chấp nhận buồn chán miễn là tôi được trở về. Tôi thấy trong lúc này tôi cần đến tình thương của những người thân yêu. "Đi làm gì?", câu hỏi này quay cuồng trong đầu tôi như một cơn lốc, như một mũi kim nhọn đâm vào tâm trí tôi, làm nhức nhối khổ sở. Ưu tư đã soi mòn lý trí. Tôi đã rơi vào một sự mâu thuẫn nghịch thường, một sự dằng co giữa bộ óc và trái tim. Đi làm gì? khi tôi không giải quyết được gì cho những người tôi yêu thương tha thiết, khi tôi sẽ phải mất tình thương, sự chăm sóc, lòng âu yếm của họ? Tôi đâu có ý định đi tìm hạnh phúc cho riêng tôi đâu? Vậy tôi đã quyết định ra đi để làm gì?

Sáng hôm ấy, Bê và Xinh ra lệnh cho hàng lên ghe. Hàng buôn đường Nam Vang là dừa khô, thơm, vali, đồ khô. Dừa được chuyền từ chiếc ghe lớn nơi chúng tôi trú ẩn. Thơm thì do một ghe từ bên kia sông đưa qua. Cả ba chiếc ghe của Bê, Sơ Rin và một người khờ me (Khmer) bạn đều chuẩn bị cuộc khởi hành mà tôi dự đoán là sắp diễn ra vì sinh hoạt trên các ghe hôm nay nhộn nhịp bất thường.
Trên ghe của Bê và Xinh tôi thấy dừa và thơm được chất đống ở cả hai phần đầu và cuối hầm ghe và phía trên ghe. Cả một ghe dừa và thơm, chỉ chừa lại một khoảng giữa hầm sẽ được dùng làm nơi chúng tôi ẩn náu khi có nguy hiểm, như khi phải qua những trạm kiểm soát hay khi vượt vùng biên giới. Trong khoang ghe, nơi chúng tôi đã được ngủ đêm đầu, dừa được xếp lớp dưới, thơm lớp trên, cả hai bên thành khoang. Chỉ chừa lại một lối nhỏ ở giữa để xuống hầm trú. Nắp hầm cũng bị che dấu dưới một lớp thơm. Muốn xuống phải rỡ lớp thơm này chui xuống rồi một người ở trên phải đóng nắp lại và để thơm trở lại lên trên.
Các máy ghe cũng được kiểm soát lại. Mỗi ghe được tiếp tế hai can dầu. Tiếng máy ghe nổ inh tai làm tôi có một cảm giác náo nức lạ. Tất cả những dấu hiệu này báo cho tôi biết là chẳng bao lâu nữa chúng tôi sẽ rời nơi đây, có thể rằng tối nay không chừng, hay sáng sớm mai? Bê không chịu cho tôi biết rõ nhưng tôi tin chắc là như vậy.

Đến khoảng giữa trưa một nhóm người lạ mặt, ăn mặc rất tân thời, quần din (jean), áo pun (pull) hay sơ mi hoa, tóc dài, hút thuốc thơm, dùng quẹt ga (gaz) đến ghe Xinh thì thầm nói chuyện rất lâu. Nhìn họ biết ngay là dân Saigon. Có thể họ là những người như chúng tôi, tham gia cuộc vượt biên này? Nhưng nếu như vậy thì quả thật họ táo bạo, ít ra là táo bạo hơn chúng tôi nhiều. Vì lối ăn bận của họ không phải là của con buôn! Họ không sợ bị lộ hay sao? Nhìn họ cười cười nói nói, ngồi uống cà phê đá, nghe nhạc từ chiếc cassette nhỏ do Xinh cố ý mở to để che lấp bớt cuộc đối thoại, tôi phân vân tự hỏi đi với họ có gì nguy lây không?
Nhưng khi buổi trưa dần dần trôi qua thì tôi thấy Bê bứt rứt, sốt ruột ra mặt. Sáng nay khi chúng tôi đi coi bói hắn đã hỏi đi hỏi lại bao giờ Hai Học trở xuống và được bảo là trước mười hai giờ trưa. Vậy mà giờ này vẫn chưa thấy Hai Học. Chính tôi cũng bồn chồn lo lắng. Tôi đã hy vọng nhiều vào ngày hôm nay, hy vọng vào cuộc hành trình ngày mai đưa tôi đến những chân trời xa lạ và tôi đã bị kích thích bởi các cuộc chuẩn bị sáng nay.

Thế rồi vào chiều hôm đó Hai Học xuất hiện. Lúc đó vào khoảng sáu giờ chiều, ánh sáng của ban ngày đã bắt đầu tắt dần trên con sông cùng với sinh hoạt thường nhật. Cháu bé đã nhìn thấy y trước và chỉ cho tôi. Trong sự hốt hoảng và mừng rỡ, tôi đã thấy y đứng trên chiếc xuồng tam bản dùng để đưa khách qua sông. Tôi đã đưa tay lên làm dấu hiệu nhưng dường như y không thấy.
Tối hôm đó, khi gặp lại tôi, y đã trách tại sao lại vẫy y, lỡ lộ thì sao? Hai Học khoe mình đã tổ chức chu đáo mọi chuyện, đã lo cho chúng tôi mấy ngày qua ở Châu Đốc, đã giữ cho chúng tôi được an toàn. Tôi cười vì tôi nghĩ Bê và Xinh đã lo cho chúng tôi chứ đâu phải y. Tôi thấy hai vợ chồng Bê rất tận tâm và trung thành. Hai Học nói y kẹt nhiều chuyện ở Saigon nên không kip trở xuống đúng như lời y đã hẹn với tôi và xin lỗi tôi một cách thành khẩn. Y bảo Xinh lấy cơm gà và cà phê đá mà hắn đã mua mang về để mời tôi ăn.
Tôi rất buồn khi biết Hai Học suốt bốn ngày ở Saigon đã không ghé thăm gia đình tôi và cho vợ tôi hay tôi đã đến Châu Đốc yên bình để nàng bớt lo. Tôi đã mong rằng khi trở xuống đây Hai Học sẽ mang theo xuống cho tôi một lá thư của vợ tôi.

Đã bao nhiêu năm rồi, từ ngày hai chúng tôi lấy nhau, tôi không còn dịp nào được đọc thơ của
nàng nữa. Lúc trước khi lấy nhau, chúng tôi đã viết cho nhau hàng trăm lá thơ thắm thiết, đầy những lời lẽ yêu thương. Tôi không biết sau mười mấy năm sống bên nhau lá thơ mà vợ tôi viết cho tôi sẽ thế nào? Còn tràn ngập tình tứ như hồi còn yêu nhau thắm thiết hay không? Còn nhớ nhung như khi còn trẻ hay không? Còn giận hờn trách móc, còn vui mừng hân hoan như trong bao nhiêu những lá thư mà nàng đã viết cho tôi nữa hay không? Tôi ao ước được sống lại dĩ vãng, sống lại những ngày tràn ngập hạnh phúc khi chúng tôi mới quen nhau và yêu nhau như điên dại. Giờ đây tôi vẫn còn yêu nàng như xưa, có khi còn nhiều hơn nữa, nhưng với một mối tình khác, không cuồng nhiệt, không bồng bột như khi còn trẻ. Bây giờ là một mối tình say đắm nhưng chín chắn, một mối tình chồng vợ đầy ân nghĩa. Bao nhiêu vui buồn, sướng khổ chúng tôi đã hưởng và chiụ bên nhau? Bao nhiêu kinh nghiệm đau thương của cuộc đời chúng tôi đã phải cùng nhau, tay trong tay, trải qua? Khó khăn nào chúng tôi đã phải chịu đựng, nhất là trong những năm sau chót, kể từ khi Miền Nam bị cộng sản chiếm nốt? Những giờ phút nào vui tươi, sung sướng tôi dường như không nhớ, nhưng sao những đau buồn cứ hiện rõ trong trí nhớ tôi? Hạnh phúc mà chính tôi được hưởng trôi qua đi như những mũi tên bay, chẳng còn để lại dấu tích gì trong ký ức tôi cả. Nhưng những chông gai, những bất hạnh thì không lúc nào không ám ảnh tôi. Trong cô đơn buồn bã, trong nổi nhớ nhung nung nấu lòng tôi, những hình ảnh đau buồn đó luôn luôn chờn vờn trong giấc mộng, đưa tôi về với dĩ vãng thương đau, làm sống lại những giây phút cay đắng của cuộc đời. Thật là kỳ lạ! Tôi không hiểu được tại sao làm con người cứ phải chịu khổ đau nhiều hơn là sung sướng? Phải chăng con người sinh ra chỉ để chịu đựng những nổi thống khổ của cuộc đời?

0 comments: